Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1072 đến 1427

Đăng lúc: Thứ năm - 07/07/2011 21:34 - Người đăng bài viết: admin
Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1072-1127 thời Lý Nhân Tông đến giai đoạn 1414-1427 thời kỳ đấu tranh chống nhà Minh (Trung Quốc)

4. Lý Nhân Tông (Lý Càn Đức) (1072 – 1127):

Niên hiệu:          - Thái Ninh (1072-1075)

               - Anh Võ Chiêu Thắng (1076-1084)

               - Quảng Hựu (1085-1091)

               - Hội Phong (1092-1100)

               - Long Phù (1101-1109)

               - Hội Tường Đại Khánh (1110-1119)

               - Thiên Phù Duệ Võ (1120-1126)

               - Thiên Phù Khánh Thọ (1127)

            Thái tử Càn Đức là con trưởng của Lý Thánh Tông, mẹ là bà Nguyên phi Ỷ Lan, sau là Thái hậu Linh Nhân. Thái tử sinh ngày 25 tháng Giêng năm Bính Ngọ (1066), khi Lý Thánh Tông mất, Thái tử lên ngôi Hoàng đế (1072) lúc mới 7 tuổi, Hoàng Thái hậu Ỷ Lan phải buông rèm nhiếp chính.

            Tháng 2 năm Ất Mão (1075), mở khoa thi Nho học đầu tiên, Lê Văn Thịnh đỗ đầu trở thành bậc khai khoa của các nhà khoa bảng nước ta.

            Năm Bính Thìn (1076), vua cho mở Trường Quốc Tử Giám ở kinh đô Thăng Long, là trường quốc học cao cấp đầu tiên ở nước ta. 

            Năm 1075, thời Tống Thần Tông, Vương An Thạch làm Tể tướng âm mưu xâm lược nước ta, Thái úy Lý Thường Kiệt biết rõ âm mưu xâm lược của nhà Tống nên đã đánh phá các căn cứ tập kết lương thực, vũ khí của chúng ở Châu Khâm, Châu Liêm, Châu Ung (Quảng Đông, Quảng Tây) rồi chủ động rút quân về nước lập phòng tuyến ở bờ nam sông Cầu để chặn giặc.

            Đầu năm 1077, Quách Quỳ và Triệu Tiết dẫn 10 vạn quân và 1 vạn ngựa chiến sang xâm lược nước ta, bị chặn lại bên bờ bắc sông Cầu hơn 2 tháng, quân dân ta đánh du kích tiêu hao sinh lực địch rất nhiều, làm cho giặc hoang mang, dao động “tiến thoái lưỡng nan”.

            Chính trên phòng tuyến sông Cầu này, đêm khuya thanh vắng, Lý Thường Kiệt cho người nấp trong đền thờ Trương tướng quân, thổi sáo và ngâm bài thơ nổi tiếng:

Namquốc sơn hà Nam đế cư,

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư,

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm?

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư!

Dịch:

Sông núi nước Nam, vua Nam ở,

Rõ ràng phân định tại sách trời,

Cớ sao nghịch tặc sang xâm phạm?

Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời!

            Đây chính là “Bản tuyên ngôn độc lập” lần thứ nhất của Tổ quốc ta.

            Quân ta nghe đọc mấy câu thơ ấy, ai nấy đều nức lòng đánh giăc, quân Tống bị tổn thất nặng nề và ở vào thế bị động.

            Biết rõ ý chí xâm lược của quân Tống đã bị đè bẹp, Lý Thường Kiệt liền chủ động đề nghị "giảng hòa" thực chất là mở lối thoát cho quân Tống, đó là chủ trương kết thúc chiến tranh mềm dẻo của Lý Thường Kiệt. Ngay lập tức, tháng 3 năm 1077, quân Tống rút lui trong cảnh hỗn loạn. Quách Quỳ sợ quân ta tập kích, nên đã bí mật cho binh lính rút lui vào ban đêm. Quân Tống rút đến đâu, Lý Thường Kiệt cho quân theo sát lấy lại đất đai đến đo.

            Sau chiến thắng quân Tống xâm lược, nền độc lập của Tổ quốc ta lại vững bền.

            Nhân dân ta vô cùng phấn khởi, được an cư lạc nghiệp, sống trong cảnh thái bình.

            Ngày 12 tháng 12 năm Đinh Mùi (1127), Lý Nhân Tông mất, trị vì được 56 năm, thọ 62 tuổi.

5. Lý Thần Tông (Lý Dương Hoán) (1128-1138):

     Niên hiệu:        - Thiên Thuận (1128-1132)

                             - Thiên Chương Bảo Tự (1133-1138)

            Vua Lý Nhân Tông không có con trai, lập con của em trai là Sung Hiền Hầu Dương Hoán lên làm Thái tử, kế vị Hoàng đế là vua Lý Thần Tông.

            Lý Thần Tông sinh tháng 6 năm Bính Thân (1116), đến năm Đinh Dậu (1117) được Lý Nhân Tông nhận làm con nuôi. Lên ngôi vua cuối tháng 12 năm Đinh Mùi (1127).

            Vua Lý Thần Tông khuyến khích phát triển nông nghiệp, thực hiện chính sách "ngụ binh ư nông", cho binh lính đổi phiên, cứ lần lượt 6 tháng một được về làm ruộng, do vậy nhân dân no đủ, an cư lạc nghiệp.

            Lý Thần Tông mất ngày 26 tháng 9 năm Mậu Ngọ (1138), trị vì được 10 năm, thọ 23 tuổi.

            Lý Thần Tông có hai con trai: Thiên Tộ và Thiên Lộc.

6. Lý Anh Tông (Lý Thiên Tộ) (1138 - 1175):

Niên hiệu:      - Thiệu Minh (1138-1139)

                       - Đại Định (1140-1162)

                       - Chính Long Bảo Ứng (1163-1173)

                       - Thiên Cảm Chí Bảo(1174-1175)     

            Lý Thiên Tộ là con đích trưởng của Lý Thần Tông, con bà Lê Hoàng hậu, sinh tháng 4 năm Bính Thìn (1136), lên ngôi Hoàng đế năm 1138, lúc đó mới 3 tuổi. Lê Thái hậu cầm quyền nhiếp chính lại tư thông với Đỗ Anh Vũ làm cho triều đình đổ nát, sau nhờ có các trung thần như Tô Hiến Thành, Hoàng Nghĩa Hiền, Lý Công Tín nên giữ vững được cơ đồ nhà Lý.

            Tô Hiến Thành đã giúp vua Lý Anh Tông đánh Đông dẹp Bắc giữ cho nước yên, luyện tập quân lính, kén chọn nhân tài giúp nước, làm cho nước Đại Việt trở nên cường thị.

            Năm Tân Mão và năm Nhâm Thìn (1171-1172), vua Lý Anh Tông sai làm tập bản đồ nước Đại Việt.

            Lý Anh Tông mất tháng 7 năm ất Mùi (1175), trị vì được 37 năm, thọ 40 tuổi.

7. Lý Cao Tông (Lý Long Cán) (1176 - 1210)

Niên hiệu:        - Trịnh Phù (1176-1185)

                         - Thiên Tư Gia Thụy (1186-1201)

                         - Thiên Gia Bảo Hựu (1202-1204)

                         - Trị Bình Long Ứng (1205-1210)

            Lý Anh Tông mất, Thái tử Long Cán lúc đó chưa đầy 3 tuổi, bà Chiêu Linh Thái hậu muốn lập con cả của mình là Long Xưởng lên ngôi vua. Bà đem vàng bạc đút lót cho vợ Tô Hiến Thành, nhưng Tô Hiến Thành nhất định không nghe cứ theo di chiếu lập Long Cán lên làm vua, hiệu là Lý Cao Tông.

            Lý Cao Tông sinh ngày 25 tháng 5 năm Quý Tỵ (1173), lê ngôi vua tháng 7 năm Ất Mùi (1175).

            Lớn lên Cao Tông chơi bời vô độ, chính sự hình pháp không rõ ràng, giặc cướp nổi lên như ong, đói kém liên miên, cơ nghiệp nhà Lý từ đó suy đồi.

            Năm Bính Thìn (1208) có loạn Quách Bốc, vua Cao Tông đem gia quyến chạy lên vùng Tam Nông (Phú Thọ). Thái tử Sảm theo Tô Trung Từ chạy về Hải ấp (làng Lưu Xá, Hưng Hà, Thái Bình) vào ở nhà ông Trần Lý làm nghề đánh cá. Thấy con gái Trần Lý là Trần Thị Dung xinh đẹp thì lấy làm vợ rồi phong cho Trần Lý tước Minh Tự, phong cho Tô Trung Từ, cậu ruột của Trần Thị Dung chức Điện tiền chỉ huy sứ.

            Anh em nhà Trần: Trần Thừa, Trần Tự Khánh, Trần Thủ Độ mộ quân giúp Thái tử Sảm khôi phục kinh đô Thăng Long rồi lên Tam Nông rước Cao Tông về kinh đô.

            Cao Tông mất ngày 28 tháng 10 năm Canh Ngọ (1210), trị vì được 34 năm, thọ 38 tuổi.

8. Lý Huệ Tông (Lý Hạo Sảm) (1211-1224):

Niên hiệu:        - Kiến Gia (1211-1224)

            Thái tử Sảm lên ngôi Hoàng đế, hiệu là Huệ Tông, lập Trần Thị Dung làm nguyên phi. Phong cho Trần Tự Khánh làm Chương Tín hầu, Tô Trung Tự làm Thái uý, Thuận Lưu Bá, Trần Thừa làm Nội thị phán thủ.

            Thái tử Sảm sinh tháng 7 năm Giáp Dần (1194) con cả của Cao Tông và bà Hoàng hậu họ Đàm.

            Lý Huệ Tông lên ngôi vua cuối năm Canh Ngo (1210).

            Năm Quý Mùi (1223), Trần Tự Khánh mất, Trần Thừa được phong làm Phụ quốc thái uý, Trần Thủ Độ làm Điện tiền chỉ huy sứ.

            Vua Huệ Tông thường rượu chè say khướt suốt ngày, bỏ bê triều chính. Huệ Tông không có con trai. Hoàng hậu Trần Thị Dung chỉ sinh được hai con gái. Con gái lớn là Thuận Thiên công chúa đã gả cho Phụng kiều vương Trần Liễu, công chúa thứ 2 là Phật Kim (công chúa Chiêu Thánh) mới 7 tuổi được làm Thái tử.

            Đến tháng 10 năm Giáp Thân (1224), Lý Huệ Tông truyền ngôi cho công chúa Chiêu Thánh rồi đi tu ở chùa Chân Giáo.

            Lý Huệ Tông trị vì được 13 năm, sau bị Trần Thủ Độ ép tự tử vào tháng 8 năm Bính Tuất (1226), thọ 33 tuổi.

9. Lý Chiêu Hoàng (Phật Kim) (1224-1225):

Niên hiệu:  - Thiên Chương Hữu Đạo (1224-1225)

            Dưới sự đạo diễn của Trần Thủ Độ, Lý Huệ Tông bị ép đi tu, nhường ngôi vua cho con gái là công chúa Chiêu Thánh (lúc đó mới 7 tuổi) là Lý Chiêu Hoàng. Binh quyền về tay Trần Thủ Độ.

            Cũng dưới sự đạo diễn của Trần Thủ Độ, Trần Cảnh (8 tuổi) là con ông Trần Thừa được đưa vào hầu cận Lý Chiêu Hoàng.

            Trần Cảnh được Lý Chiêu Hoàng yêu mến, thường hay té nước, ném khăn trêu đùa.

            Trần Thủ Độ tung tin là Lý Chiêu Hoàng đã lấy chồng là Trần Cảnh.

            Ngày 21 tháng 10 năm Ất Dậu (1225), có chiếu của Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh.

            Ngày 11 tháng 12 năm Ất Dậu (1225), Lý Chiêu Hoàng mở hội lớn ở điện Thiên An, trước bá quan văn võ, Chiêu Hoàng cởi hoàng bào mời Trần Cảnh lên ngôi Hoàng đế đổi niên hiệu là Kiến Trung năm thứ nhất, dựng lên triều đại nhà Trần từ đấy. Phong cho Lý Chiêu Hoàng là Chiêu Thánh Hoàng hậu.

            Nhưng sau bất hạnh đã đến với Chiêu Thánh Hoàng hậu, nguyên do lấy Trần Cảnh đã hơn 10 năm mà vẫn chưa có con, Trần Thủ Độ và vợ là Trần Thị Dung sợ vua Thái Tông Trần Cảnh tuyệt tự, không người nối dõi ngôi vua, bèn lấy Thuận Thiên công chúa (chị ruột của Chiêu Thánh), vợ Trần Liễu (anh ruột Trần Cảnh) đang có mang ép gả cho Trần Cảnh tháng 01 năm Đinh Dậu (1237), lập Thuận Thiên làm Hoàng hậu. Chiêu Thánh đau khổ, âm thầm trong cung cấm, đã định thoát tục đi tu.

            Nhưng may thay 20 năm sau, hạnh phúc đã đến với Chiêu Thánh. Sau chiến thắng đế quốc Mông Cổ lần thứ nhất (1258), vua Trần Thái Tông đã gả Chiêu Thánh Công chúa cho Lê Phụ Trần, một tướng quân có công lớn trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mông Cổ. Lúc đó Chiêu Thánh đã 40 tuổi, nhưng đã tìm thấy hạnh phúc thực sự, bà sinh dược hai người con: Lê Tông làm quan dưới triều Trần đến tước Thượng Vị hầu và Ngọc Khê được phong là Ứng Thụy công chúa.

            Chiêu Thánh mất năm 60 tuổi.

            Như vậy, Vương triều Lý tồn tại 215 năm, với 9 đời vua trị vì.

            Vương triều Lý đã có công làm cho nước Đại Việt trở thành một nước cường thịnh ở thế kỷ XI-XII, ngoài thì đánh Tống, bình Chiêm, trong thì chỉnh đốn việc võ bị, sửa sang pháp luật, xây dựng nền độc lập tự chủ. Song vì vua Cao Tông hoang chơi, làm mất lòng người, cho nên giặc giã nổi lên, loạn thần nhiễu sự. Vua Lý Huệ Tông lại nhu nhược, bỏ qua chính sự, đem giang sơn phó thác cho người con gái còn thơ dại, khiến cho họ Trần được dịp mà lấy giang sơn nhà Lý lập ra cơ nghiệp nhà Trần từ đó.

 

Phần đọc thêm

DANH NHÂN THỜI LÝ

            Đất nước Việt Nam ta, thời nào cũng sản sinh ra những anh hùng của dân tộc và những danh nhân của đất nước. Xin giới thiệu một số danh nhân của thời Lý:

NGUYÊN PHI Ỷ LAN

            Tên thật là Lê Thị Yến, quê ở làng Thổ Lỗi (Thuận Thành, Bắc Ninh) nay thuộc huyện Gia Lâm, Hà Nội.

            Mẹ mất từ lúc 12 tuổi, bố lấy vợ kế nên Ỷ Lan cũng khổ như cô Tấm trong chuyện cổ tích.

            Năm ấy, vua Lý Thánh Tông đã 40 tuổi mà chưa có con trai nối dõi nên về chùa Dâu cầu tự. Dân làng đổ ra xem, chỉ riêng cô Yến vẫn vừa hái dâu vừa hát. Nhà vua thấy lạ, cho người vời lại hỏi thì đấy là một cô thôn nữ bội phần xinh đẹp, lại đối đáp lưu loát. Vua cảm mến đưa về triều, phong làm Nguyên phi Ỷ Lan.

            Nguyên phi Ỷ Lan sinh ra Thái tử Càn Đức ngày 25 tháng Giêng năm Bính Ngọ (1066). Khác với các hậu phi, Ỷ Lan không lấy việc trau chuốt nhan sắc làm chính, mà chỉ miệt mài đọc sách, khổ công học hỏi, nên trong một thời gian ngắn, triều thần đều kinh ngạc trước sự hiểu biết uyên thâm về nhiều mặt của Ỷ Lan.

            Năm 1069, Vua Lý Thánh Tông đích thân cầm quân đi đánh giặc Chiêm Thành. Ỷ Lan được trao quyền nhiếp chính, cũng năm đó nước ta không may bị lụt lớn, mùa màng thất bát, nhiều nơi bị đói khổ, bà đã cho mở kho thóc dự trữ phát trẩn cho dân, nhờ có tài trị nước đúng đắn, quyết đoán táo bạo của bà mà loạn lạc đã được dẹp yên, dân đói đã được cứu sống. Cảm ơn đó, nhân dân ta đã tôn thờ bà Ỷ Lan là Quan Âm nữ.

            Vì quân Chiêm Thành thường sang cướp phá vùng biên giới, Lý Thánh Tông phải đem quân đi đánh Chiêm Thành, đánh mãi không được, nhà vua bèn rút quân về đến châu Cư Liên nghe tin Nguyên Phi ở nhà giám quốc, trong nước được yên trị, Thánh Tông nghĩ rằng: "Nguyên Phi là đàn bà còn làm được như thế, ta là nam nhi lại chẳng được việc gì hay sao". Bèn đem quân trở lại đánh bắt được vua Chiêm Thành là Chế Củ.

            Vua Chiêm Thành là Chế Củ bị bắt xin dâng 3 châu Địa Lý, Ma Linh, Bố Chính để chuộc tội "ba châu ấy nay thuộc Quảng Bình, Quảng Trị", vua Lý Thánh Tông lấy ba châu ấy, rồi tha Chế Củ về nước.

            Năm 1072, Lý Thánh Tông đột ngột qua đời, Ỷ Lan trở thành Hoàng Thái hậu nhiếp chính vì lúc đó vua Lý Nhân Tông mới 7 tuổi, cùng với Lý Thường Kiệt nắm quyền Tể tướng làm cho đất nước ta ngày càng cường thịnh.

            Năm 1077, nhà Tống phát đại binh sang xâm lược nước ta. Thái hậu Ỷ Lan cử Thái uý Lý Thường Kiệt chuyên tâm lo việc binh chống giặc ngoại xâm và cho người vào Nghệ An đón Lý Đạo Thành về làm Thái sư để cùng bà điều khiển triều đình, huy động sức người, sức của cho cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhà Tống. Nhờ vậy mà chỉ trong vòng mấy tháng quân giặc đã phải rút chạy về nước.

            Thái hậu Ỷ Lan hiểu rõ nỗi khổ của nông dân. Bà lấy tiền kho chuộc những người con gái nghèo bị bán rồi dựng vợ gả chồng cho họ.

            Bà nhắc nhở nhà vua trị tội thật nặng những kẻ ăn trộm trâu và giết trâu vì bà cho rằng "nông dân có con trâu là đầu cơ nghiệp".

            Ngày 25 tháng Bảy năm Đinh Dậu (1117), Hoàng Thái hậu Ỷ Lan qua đời, nhân dân ta vô cùng thương tiếc, nhiều nơi lập đền thờ.

THÁI ÚY LÝ THƯỜNG KIỆT

            Năm 1019 tại căn nhà của một võ quan ở phường Thái Hoà (phía trên vườn Bách Thảo ngày nay) con trai đầu lòng của ông Ngô An Ngữ và bà họ Hàn ra đời, được đặt tên là Ngô Tuấn.

            Năm Thiên Thành đời Lý Thái Tông, ông Ngô An Ngữ được cử đi tuần ở phía nam Thanh Hoá, ít lâu sau lâm bệnh qua đời.

            Chồng của cô ruột là Tạ Đức đem Ngô Tuấn về nuôi dạy văn võ.

            Năm Ngô Tuấn 18 tuổi (1036) mẹ mất. Ngô Tuấn cùng em lo đủ các lễ mai táng. Hết tang, ông được bổ chức Kỵ mã hiệu uý. Do tính siêng năng, cần mẫn lại hết lòng trung thành, ông được vua tin yêu thăng thưởng dần lên đến chức Đô tri và được đổi sang họ vua gọi là Lý Thường Kiệt.

            Năm 1061, được cử vào trấn giữ vùng núi Thanh - Nghệ hiểm trở, ông đã vỗ về nhân dân chăm lo sản xuất, khai khẩn đất hoang làm cho cuộc sống ấm no, biên cương vững vàng.

            Năm 1075, nhà Tống do Vương An Thạch làm Tể tướng âm mưu chuẩn bị xâm lược nước ta.

            Thái uý Lý Thường Kiệt tâu với Thái hậu Ỷ Lan: "Ngồi yên đợi giặc, không bằng đưa quân ra trước". Thái hậu đồng ý cho Lý Thường Kiệt và Tông Đản đem quân sang đánh phá các căn cứ tập kết lương thực, vũ khí của nhà Tống ở Châu Khâm, Châu Liêm, Châu Ung (Quảng Đông, Quảng Tây). Sau 42 ngày đêm chiến đấu một cách thông minh, ngoan cương, quân đội Đại Việt đã sn bằng ba căn cứ quân sự lớn đó rồi chủ động rút quân về nước. Để ngăn chặn quân xâm lược Tống, Lý Thường Kiệt đã cho xây dựng một phòng tuyến dài khoảng 80km, lấy dòng sông Cầu làm hào, dùng đê mạn nam ngạn sông Cầu làm thành lũy.

            Đầu năm 1077, Quách Quỳ và Triệu Tiết dẫn 10 vạn bọ binh tinh nhuệ, 1 vạn ngựa chiến cùng 20 vạn quân phu, ồ ạt tiến vào xâm lược nước ta. Quân xâm lược đã bị quân dân cả nước chặn đánh ngay từ cửa ải Lạng Sơn. Ngày 18 tháng 01 năm 1077 quân Tống tiến đến bờ bắc sông Cầu và bị chặn lại hơn 2 tháng, quân dân Đại Việt dùng chiến tranh du kích tiêu hao sinh lực địch, làm cho quân giặc hoang mang, giao động "tiến thoái lưỡng nan".

            Chính trên phòng tuyến sông Cầu này, đêm khuya thanh vắng, Lý Thường Kiệt cho người nấp trong đền thờ Trương tướng quân, ngâm bài thơ thần bốn câu:

Namquốc sơn hà Nam đế cư,

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư,

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm?

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư!

Tạm dịch:

Sông núi nước Nam, vua Nam ở,

Rõ ràng phân định tại sách trời,

Cớ sao nghịch tặc sang xâm phạm?

Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời!

            Giọng thơ vang như sấm động, nhắc đi nhắc lại nhiều lần, quân ta nghe thơ đều phấn chấn, còn quân Tống bên kia sông cũng nghe thấy đứa nào, đứa nấy đều sợ hãi mất mật.

            Bài thơ khẳng định quyền độc lập tự chủ thiêng liêng của Tổ quốc, cảnh báo nghiêm khắc mọi kẻ thù xâm lược và nói lên quyết tâm sắt đá của dân tộc ta trong việc bảo vệ độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ. Bài thơ đã đi vào lịch sử của dân tộc ta như bản "Tuyên ngôn độc lập" thứ nhất của Tổ quốc ta (cách nay gần 1000 năm).

            Đúng vào lúc giặc Tống đang bị dồn vào tình thế khốn quẫn nhất, Lý Thường Kiệt hạ lệnh tấn công. Đó là một ngày cuối mùa xuân năm 1077. Trước hết, hai vị hoàng tử là Hoằng Chân và Chiêu Văn dùng 400 thuyền chiến, bất ngờ đánh mạnh vào khu vực đóng quân của Quách Quỳ. Hoằng Chân và Chiêu Văn vừa đánh vừa phô chương thanh thế, cốt thu hút toàn bộ sự chú ý của quân xâm lăng. Một trận ác chiến đã diễn ra, trong trận ác chiến này hai vị hoàng tử là Hoằng Chân và Chiêu Văn đều anh dũng hy sinh. Nhưng đúng lúc Quách Quỳ và Triệu Tiết dồn hết sự chú ý vào cánh quân của hai hoang tử thì đại quân do đích thân Lý Thường Kiệt đánh dồn dập vào khu vự đóng quân của Triệu Tiết như sấm sét nổ trên đầu giặc. Đại bộ phận quân Tống ở đây đều bị tiêu diệt. Chỉ trong một đêm, tình thế đã xoay chuyển hoàn toàn. Quách Quỳ và Triệu Tiết vội vã ra lệnh rút quân tháo chạy về nước. Nền độc lập của Tổ quốc ta lại được vững bền.

            Sinh thời, Lý Thường Kiệt không ngừng nêu cao tấm gương sáng ngời về tinh thần đoàn kết vì nghĩa lớn, không ngừng nêu cao phẩm giá trung quân ái quốc khi vận nước lâm nguy cũng như khi non sông được thái bình.

            Lý Thường Kiệt đã góp phần đắc lực cùng vua và triều đình trong sự nghiệp xây dựng đất nước, đặc biệt là góp phần củng cố sức mạnh của guồng máy nhà nước đương thời. Trong khoảng 10 năm sau khi Lý Thánh Tông qua đời (1069) Lý Nhân Tông còn thơ ấu, Lý Thường Kiệt thực sự là linh hồn của đất nước, là người chịu trách nhiệm lớn nhất trong sự nghiệp điều khiển vận mệnh của quốc gia trong giai đoạn khó khăn nhất ở thế kỷ XI.

            Ông đã để lại cho đời một số áng văn thơ, trong đó nổi bật nhất là bài tứ tuyệt không đề, được hậu thế chọn bốn chữ đầu làm đề để dễ truyền tụng, đó là bốn chữ Nam quốc sơn hà - một trong những áng thiên cổ hùng văn, có giá trị như bản "Tuyên ngôn độc lập" lần thứ nhất của nước ta.

            Tháng Sáu năm Ất Dậu (1105), Đôn Quốc Thái uý Lý Thường Kiệt mất, thọ 86 tuổi. Điều đáng nói là trước khi qua đời một năm (1104) đã 85 tuổi, Lý Thường Kiệt vẫn là tướng tổng chỉ huy quân đội, đã đánh và đánh thắng một trận rất lớn ở phía Nam đất nước.

            Nhà vua truy tặng Ông chức: Nhập nội điện đô tri hiển hiệu thái uý bình chương quân quốc trọng sự, tước Việt quốc công.

            Để tưởng nhớ công lao to lớn của người anh hùng dân tộc, nhiều nơi lập đền thờ Ngài.

            Năm 1126 (tức là 21 năm sau khi Ngài mất), nhà sư Thích Pháp Bảo có soạn bài Ngưỡng Sơn Linh Xứng tu bi minh, (bài minh, khắc trên bia đá, đặt tại chùa Linh Xứng, núi Ngưỡng Sơn) trong đó có đoạn:

Việt hữu Lý Công

Cố nhân chuẩn thưc

Mục quận lý ninh

Chuẩn sự tất khắc

Danh dương hàm hạ

Thanh chán hà vực.

Có nghĩa là:

Nước Việt có người họ Lý

Theo đúng phép của người xưa

Đã cầm quân là tất thắng lợi

Đã trị nước thì dân được yên

Danh Lừng thiên hạ

Tiếng vang khắp xa gần.

            Đền thờ Lý Thường Kiệt được lập nên ở nhiều nơi trong khắp đất nước ta. Ngày nay Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đều chọn đường phố lớn đặt tên "Đại lộ Lý Thường Kiệt" để tưởng nhớ công lao to lớn của Ngài.

LÊ PHỤNG HIỂU

            Lê Phụng Hiểu quê ở Băng Sơn, gọi là thôn Bưng (Hoằng Hoá, Thanh Hoá). Ông say mê đánh vật, đấu quyền, quăng đao, múa kiếm.

            Lý Thái Tổ tuyển người giỏi võ vào đội quân Thượng Đô. Ông lên Kinh dự thi, và được tuyển dụng. Chỉ ít lâu sau ông được thăng đến chức Vũ vệ tướng quân.

            Năm 1028, Lý Thái Tổ mất, Thái tử Phật Mã lên ngôi tức là Lý Thái Tông. Ba Hoàng tử là Đông Chính Vương, Dực Thánh Vương, Vũ Đức Vương vây kinh thành để cướp ngôi (gọi là loạn tam Vương). Lê Phụng Hiểu chỉ huy quân cấm vệ, đánh tan được bọn vương tử làm loạn.

            Ngôi vua được bảo vệ, Lý Thái Tông phong ông là Đô thống. Năm 1043, quân Chiêm Thành sang xâm lược nước ta, Lê Phụng Hiểu hộ giá Lý Thái Tông đi đánh giặc. Năm 1044 chiến thắng trở về, vua xét ban thưởng quan tước, ông không nghe, xin trèo lên núi Băng Sơn ném con đao lớn ra xa. Đao rơi xuống nơi nào thì xin ban cho vùng đó để dựng nghiệp. Vua ưng thuận. Ông đứng trên núi Băng Sơn vung tay ném đao xuống núi. Đao rơi xuống thôn Đa Mi, tính đến hơn một nghìn mẫu đất gọi là "Thác đao điền".

TÔ HIẾN THÀNH

            Tô Hiến Thành, hiệu Phi Diên, người làng hạ Mỗ, huyện Ô Diên nay là thôn Hạ Mỗ, xã Hồng Thái, huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Tây.

            Là người khảng khái, làm quan đến Thái phó rồi Thái uý đời vua Lý Anh Tông, ông là người trung thực và liêm khiết.

            Ông đã có nhiều công to: năm Kỷ Mão (1159) ông đánh tan giặc Ngưu Thống và Ai Lao vào cướp phá biên giới phía tây nam và ven biển, năm Đinh Hợi (1157) đánh Chiêm Thành thắng lợi.

            Khi ông lâm bệnh sắp mất có Tham tri chính sự Võ Tán Dương sớm tối lo hầu hạ, còn quan Gián nghị đại phu là Trần Trung Tá vì bận việc nước không hề đến thăm, nhưng khi Thái hậu hỏi: "Ông mất thì ai sẽ nối nghiệp?" Ông trả lời không do dự: "Gián nghị đại phu Trần Trung Tá...".

            Tháng Sáu năm Kỷ Hợi (1179), Tô Hiến Thành qua đời.

 

XIV. NHÀ TRẦN (1225-1400) 175 NĂM,

QUỐC HIỆU ĐẠI VIỆT, KINH ĐÔ THĂNG LONG

1. Trần Thái Tông (Trần Cảnh) (1225-1258):

Niên hiệu:- Kiến Trung (1225-1241)

                 - Thiên Ứng Chính Bình (1242-1250)

                 - Nguyên Phong (1251-1258)

            Tên húy Trần Bồ, sinh ngày 16 tháng 6 năm Mậu Dần (1218), con thứ của ông Trần Thừa và bà họ Lê. Tổ tiên Nhà Trần là Trần Kinh vốn gốc ở Đông Triều (Quảng Ninh) chuyên nghề đánh cá, đến ở hương Tức Mạc, phủ Thiên Trường (nay là xã Tức Mặc, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định), sinh ra Trần Hấp. Trần Hấp sinh ra Trần Lý. Trần Lý sinh ra Trần Thừa, Trần Tự Khánh và Trần Thị Dung. Trần Thủ Độ là cháu họ, được Trần Lý nuôi nấng từ nhỏ coi như con. Trần Thừa sinh ra Trần Liễu và Trần Cảnh là con trai, sau có mối tình với cô thôn nữ ở thôn Bà Liệt tên là Tần, sinh ra Trần Bá Liệt. Dưới sự đạo diễn của Trần Thủ Độ, lúc đó là Điện Tiền chỉ huy sứ, ngày 21 tháng 10 năm Ất Dậu (1225), Lý Chiêu Hoàng xuống chiếu nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh.

            Ngày 11 tháng 12 năm Ất Dậu (1225), Trần Cảnh chính thức lên ngôi Hoàng đế, đổi niên hiệu là Kiến Trung.

            Phong Lý Chiêu Hoàng làm Chiêu Thánh Hoàng hậu

            Phong Trần Thủ Độ là Thái sư thống quốc hành quân vụ chinh thảo sự.

            Mùa hạ, tháng 6 năm Nhâm Thìn (1232), vua Trần Thái Tông ban bố các chữ quốc huý và miếu huý.

            Vì Tổ nhà Trần là Trần Lý, mới đổi họ Lý sang họ Nguyễn.

            Một số hoàng thân nhà Lý sợ hãi, tìm cách di cư ra nước ngoài như hoàng tử Lý Long Tường đã di cư sang Cao Ly (sau trở thành anh hùng chống Nguyên - Mông của Cao Ly).

            Năm Đinh Dậu (1237), Trần Thái Tông lấy Chiêu Thánh Hoàng hậu đã 12 năm mà chưa có con. Trần Thủ Độ và vợ là công chúa Thiên Cực ép vua Trần Thái Tông bỏ Chiêu Thánh để lấy chị dâu (vợ Trần Liễu) là công chúa Thuận Thiên đã có mang 3 tháng làm Hoàng hậu. Trần Liễu tức giận đem quân ra sông Cái làm loạn. Còn vua Trần Thái Tông đang đêm bỏ trốn lên chùa Phù Vân, núi Yên Tử, Quảng Ninh để phản đối.

            Trần Thủ Độ dẫn các triều thần lên núi mời vua trở về kinh sư. Vua nói: "Vì trẫm non trẻ chưa cáng đáng nổi sứ mệnh nặng nề, phụ hoàng lại vội lìa bỏ, sớm mất chỗ trông cậy, nên không dám giữ ngôi vua mà làm nhục xã tắc".

            Trần Thủ Độ cố nài xin nhiều lần, vua vẫn không nghe, mới bảo mọi người rằng: "Xa giá ở đâu là triều đình ở đó" rồi sai người xây dựng cung điện ở ngay tại chùa Phù Vân. Vị quốc sư ở chùa phải vào van lạy nhà Vua. Nhà Vua bất đắc dĩ phải theo xa giá về kinh đô.

            Trần Liễu làm loạn ở sông Cái được vài tuần, lượng thấy thế cô, bèn ngầm đi thuyền đến chỗ vua xin hàng, anh em nhìn nhau mà khóc.

            Trần Thủ Độ nghe tin, đến thẳng thuyền vua, rút gươm định giết Trần Liễu. Nhà Vua phải lấy thân mình che đỡ cho anh. Trần Thủ Độ tức lắm ném gươm xuống sông nói: "Ta chỉ là con chó săn thôi, biết đâu anh em các người thuận nghịch thế nào?"

            Vua nói giải hoà, rồi bảo Trần Thủ Độ rút quân về.

            Nhà Vua lấy đất Yên Phụ, Yên Dưỡng, Yên Sinh, Yên Hưng, Yên Bang (nay là Đông Triều, Yên Hưng, Quảng Ninh) là đất thang mộc và phong cho anh là Yên Sinh Vương.

            Hoàng hậu Thuận Thiên sau sinh ra Quốc Khang, thái tử Hoảng, Quang Khải, Nhật Vĩnh, Ích Tắc, Nhật Duật đều được phong Vương, và các công chúa Thiều Dương, Thuỵ Bảo.

            Kháng chiến chống đế quốc Mông Cổ lần thứ nhất (1258):

            Năm Đinh Tỵ (1257) Hốt Tất Liệt sai một đạo quân do tướng Ngột Lương Hợp Thai chỉ huy đánh lấy nước Đại Lý (Vân Nam) và sai sứ sang dụ ta hàng. Vua Trần Thái Tông bắt giam sứ Mông Cổ và hạ lệnh cho các quan ngoài biên ải đề phòng cẩn mật, ba lần sứ sang Đại Việt đều không thấy về.

            Ngày 12 tháng 12 năm 1257, Hốt Tất Liệt sai danh tướng Ngột Lương Hợp Thai đem 10 vạn quân sang xâm lược nước ta, dưới sự lãnh đạo của Trần Thái Tông, Trần Thủ Độ và Trần Quốc Tuấn, toàn quân và toàn dân ta đã dũng cảm chống lại một kẻ thù là đế quốc Mông Cổ hung hãn và mạnh nhất thời đại bấy giờ (quân Mông Cổ đã chiếm đóng hầu khắp châu Âu, đến tận Ba Tư và đã chiếm đóng gần hết Trung Quốc).

            Thế giặc mạnh quá, để bảo toàn lực lượng, ta phải bỏ kinh đô Thăng Long lui quân về giữ Mạn Trù, Khoái Châu, Hưng Yên. Vua Trần Thái Tông ngự thuyền đến hỏi ý kiến Thái uý Nhật Hiệu thì Nhật Hiệu lấy nước viết vào mạn thuyền hai chữ "Nhập Tống". Vua lại đến hỏi ý kiến Thái sư Trần Thủ Độ. Trần Thủ Độ khảng khái nói rằng: "Đầu tôi chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo".

            Trần Thái Tông nghe thấy Trần Thủ Độ nói cứng cỏi như thê, trong bụng mới được yên.

            Quân dân Đại Việt ta đã dùng chiến tranh du kích, vườn không nhà trống để tiêu hao sinh lực kẻ thù, đợi cho kẻ thù bị quẫn bách về lương thực, khốn khổ vì không hợp thuỷ thổ. Ngày 29-01-1258, Trần Thái Tông, Trần Thủ Độ chỉ huy tướng lĩnh đem binh thuyền từ sông Thiên Mạc ra sồn Hồng tiến về Thăng Long. Quân ta tổ chức phản công địch ở Đông Bộ Đầu thắng lớn.

            Quân Mông Cổ bị quân ta đánh bật khỏi kinh thành Thăng Long, chúng rút chạy về Vân Nam. Đến trại Quy Hóa, quân giặc đã bị trại chủ Hà Bổng chỉ huy quân dân địa phương ra đón đánh, làm cho quân giặc bị thiệt hại nặng nề, chúng hoảng sợ cắm đầu chạy thoát thân không dám nghĩ đến chuyện cướp boc, đốt phá như khi chúng mới tiến quân vào Đại Việt.

            Thế là, đất nước ta sạch bóng quân thù, giữ vững được nền độc lập dân tộc của Tổ quốc.

            Ngày 24 tháng 2 năm Mậu Ngọ (1258), vua Trần Thái Tông nhường ngôi cho Thái tử Trần Hoảng, đây là một cách tập sự cho con quen với việc trị nước. Triều đình tôn Thái Tông lên làm Thái Thượng hoàng đế để cùng coi việc nước.

            Ngày mồng 01 tháng 4 năm Đinh Sửu (1277), Thái Thượng hoàng mất, thọ 60 tuổi, trị vì được 33 năm, làm Thái Thượng hoàng 19 năm.

2. Trần Thánh Tông (Trần Hoảng) (1258-1278):

Niên hiệu:           - Thiệu Long (1258-1272)

                            - Bảo Phù (1273-1278)

            Tên húy là Hoảng, là con trưởng dòng đích của Thái Tông, mẹ là Hiển Từ Thuận Thiên Hoàng Thái hậu Lý Thị, sinh ngày 25 tháng 9 năm Canh Tý (1240). Ngày 24 tháng 02 năm Mậu Ngọ (1258) lên ngôi hoàng đế đổi niên hiệu là Thiệu Long năm thứ 1.

            Thánh Tông là một vị vua nhân từ độ lượng, hết lòng chăm lo việc nước. Đối nội, nhà vua khuyến khích khai khẩn đất hoang, mở mang điền trang thái ấp bằng cách chiêu tập những người nghèo đói lưu lạc, giúp họ an cư lạc nghiệp. Nhà vua khuyến khích việc học hành bằng cách mở các khoa thi để lựa chọn người tài mà trọng dụng, thời Trần đã xuất hiện "Lưỡng quốc Trạng nguyên" Mạc Đĩnh Chi, nhà sử học Lê Văn Hưu đã viết bộ quốc sử đầu tiên của nước ta là "Đại Việt sử ký" (1272).

            Đối ngoại, lúc đó nhà Nguyên đã chiếm toàn bộ Trung Quốc của nhà Tống, đang chuẩn bị điều kiện để thôn tính Đại Việt, chúng sai sứ sang phong Vương cho Vua Trần Thánh Tông và bắt nước ta cứ 3 năm một lần cống nạp nho sĩ, thầy thuốc, thầy bói, thầy tướng số và những nghệ nhân giỏi mỗi loại 3 người cùng với những sản vật: sừng tê giác, ngà voi, đồi mồi, châu báu và những vật lạ khác, chúng còn đòi đặt quan Chưởng ấp giám sát các châu quận Đại Việt để chuẩn bị xâm lược nước ta.

            Vua Trần Thánh Tông đã thực hiện chính sách ngoại giao mềm dẻo những rất kiên quyết, nhằm bảo vệ danh dự và nền độc lập của Tổ quốc. Mặt khác, quan tâm đến việc luyện tập quân sĩ, tích trữ lương thực, vũ khí chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông lần thứ hai. Vua Trần Thánh Tông ở ngôi được 20 năm, làm Thái Thượng hoàng 12 năm. Ngày 25 tháng 5 năm Canh Dần (1290) Thái Thượng Hoàng mất ở cung Nhâm Thọ, hưởng thọ 51 tuổi.

            Vua Trần Thánh Tông có ba người con: Thiên Thụy công chúa, Thái tử Trần Khâm và Tá Thiên Vương Đức Việp.

3. Trần Nhân Tông (Trần Khâm) (1279-1293):

Niên hiệu:            - Thiệu Bảo (1279-1284)

                             - Trùng Hưng (1285-1293)

            Thái tử Trần Khâm, con trưởng Thánh Tông, mẹ là Nguyên Thánh Thiên Cảm Hoàng Thái hậu, sinh ngày 11 tháng 11 năm Mậu Ngọ (1258).

            Ngày 22 tháng 10 năm Mậu Dần (1278) lên ngôi Hoàng đế đổi niên hiệu là Thiệu Bảo năm thứ nhất tính từ năm Kỷ Mão (1279).

            Vua Trần Nhân Tông là một vị vua nhân từ, hoà nhã, cố kết lòng dân, quyết đoán, hết lòng vì dân vì nước trong thời gian 14 năm ở ngôi. Đất nước Đại Việt ta trải qua hai cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông hùng mạnh nhất thế giới thời bấy giờ.

            Kháng chiến chống Nguyên - Mông lần thứ 2 (1285):

            Tháng 12-1284, vua Nguyên sai Thái tử Thoát Hoan đem 50 vạn quân sang xâm lược nước ta, có thêm 10 vạn quân của Toa Đô chỉ huy từ Chiêm Thành đánh ra Nghệ An, kẹp ta vào thế bị đánh cả hai đầu.

            Giúp việc Thoát Hoan có tả tướng Lý Hằng, hữu tướng Lý Quán làm Tham tán nhung vụ và bọn đại tướng Toa Đô, Ô Mã Nhi, Đường Ngột Đải, Phàn Tiếp v.v...

             Trước khi, quân Nguyên vào xâm lược nước ta, Thái Thượng Hoàng Trần Thánh Tông và vua Trần Nhân Tông đã sắc phong cho Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn là Quốc Công tiết chế chỉ huy toàn bộ quân dân Đại Việt kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên - Mông.

            Các vua Trần đã tổ chức Hội nghị quân sự ở Bình Than và tháng 8-1284, Hưng Đạo Đại Vương tổ chức tập trận ở Đông Bộ Đầu. Người đã công bố "Hịch tướng sĩ" để khích lệ lòng yêu nước của toàn quân, toàn dân.

            Các vua Trần đã tổ chức hội nghị các bô lão trong cả nước ở điện Diên Hồng để hỏi ý dân nên hàng hay nên đánh, cả nước đồng lòng "đánh". Quân và dân ta khắc vào tay hai chữ "Sát Thát" (Giết giặc Nguyên). Với quyết tâm giết giặc của toàn quân và toàn dân, dưới sự chỉ huy chiến lược tuyệt vời của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, để đánh thế mạnh của quân địch ban đầu, ta tổ chức cầm cự và bỏ kinh đô Thăng Long để bảo toàn lực lượng, dùng chiến tranh du kích, vườn không nhà trống để tiêu hao sinh lực địch, đợi cho quân địch khốn khổ vì thiếu lương thực mới tổ chức phản công địch ở mọi phía. Với chiến thắng lẫy lừng ở Chương Dương, Hàm Tử, Tây Kết, Vạn Kiếp... chỉ trong vòng nửa năm, quân Nguyên bị đánh tơi bời, phải rút chạy. Toa Đô, Lý Hằng, Lý Quán bị chém đầu tại trận, còn Thoát Hoan phải chui vào ống đồng cho người khiêng chạy về nước mới thoát chết.

            Ngày 06 tháng 6 năm 1285, quân và dân ta tiến về giải phóng kinh đô Thăng Long, mở hội ca khúc khải hoàn.

            Trong chiến thắng quét sạch quân Nguyên - Mông lần này ra khỏi bờ cõi, có công lao to lớn của hai anh em tù trưởng dân tộc ít người miền núi Vĩnh Phú là Hà Đặc và Hà Chương đã dùng mưu trí, tổ chức dân binh địa phương, phối hợp với quân triều đình, đánh quân Nguyên - Mông ở sau lưng địch, làm cho chúng mất ăn mất ngủ. Hà Đặc đã anh dũng hy sinh ở A Lạp khi đánh quân giặc đang bắc cầu phao ở đó. Chiến thắng quân Nguyên - Mông lần thứ 2 (1285) đã thể hiện sức mạnh đoàn kết kháng chiến chống ngoại xâm của toàn thể cộng đồng các dân tộc Đại Việt thời bấy giờ.

            Kháng chiến chống quân Nguyên - Mông lần thứ ba (1288):

            Sau hai lần xâm lược nước ta bị thất bại nhục nhã, Vua Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt vô cùng căm giận, ra lệnh đình chỉ việc chuẩn bị tấn công Nhật Bản để huy động 50 vạn quân ở các tỉnh Giang Hoài, Hồ Quảng, Giang Tây, Vân Nam và các châu ngoài biển như Nhai, Quỳnh Đam... vẫn trao cho Thoát Hoan thống Lĩnh, cho A Bát Xích làm Hành tỉnh tả thừa, Áo Lỗ Xích làm Bình chương chính sự, Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp làm Tham tri chính sự đưa Trần Ích Tắc (quốc vương bù nhìn) sang xâm lược nước ta một lần nữa.

            Thoát Hoan sai Vạn Hộ hầu Trương Văn Hổ theo đường biển vận tải 70 vạn thạch lương thực sang cung cấp cho quân xâm lược.

            Mùa đông năm Đinh Hợi (1287), quân Nguyên dưới sự chỉ huy của Trấn Nam Vương Thoát Hoan ồ ạt kéo vào xâm lược nước ta.

            Dưới sự chỉ huy tài giỏi của Quốc Công tiết chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, toàn quân và dân ta lại dùng chiến tranh du kích, vườn không nhà trống để tiêu hao sinh lực địch.

      

   

                                     

        

                  

            Ngày 24-11-1287, Hưng Đức hầu Quán đã cho quân mai phục dùng tên thuốc độc bắn giết được nhiều giặc ở cửa Linh Kinh.

            Ngày 28-11-1287, phán thủ thượng vị Nhân Đức Hầu Toán đánh lui địch ở eo biển Đa Mỗ (Móng Cái, Quảng Ninh), quân ta bắt sống 40 tên, thu được nhiều thuyền, ngựa chiến.

            Ngày 28 tháng chạp năm 1287, quân ta phục kích bắn chết Sảnh đô sự hầu Sư Đạt của giặc tại ải Nội Bàng.

            Ngày 08-1-1288, quân ta đánh bắt được 300 thuyền giặc tại cửa biển Đại Bàng, giặc bị giết và chết đuối rất nhiều.

            Tại trận Vân Đồn, Thoát Hoan sai Ô Mã Nhi đem quân ra đón thuyền lương của Trương Văn Hổ, gặp quân của Trần Khánh Dư, hai bên giao chiến, Trần Khánh Dư thất bại, vua Trần cho Trung sứ bắt về trị tội, Trần Khánh Dư xin ở lại lập công chuộc tội.

            Khánh Dư trở lại, chờ cho Ô Mã Nhi đi qua, đem quân tấn công vào đoàn thuyền trở lương thực của Trương Văn Hổ, cướp được nhiều lương thực và vũ khí còn lại cho đánh thuyền chìm xuống biển. Trương Văn Hổ phải lẻn xuống thuyền nhỏ trốn về nước (11-01-1288).

            Trần Khánh Dư thắng trận đưa thư về báo tiệc. Thượng Hoàng mừng rỡ, xá tội cho Khánh Dư và bảo Hưng Đạo Vương rằng: "Quân Nguyên cốt trông cậy có lương thảo, vũ khí nay đã bị ta cướp mất cả rồi, thì thế nó không tràng cửu được nữa. Nhưng nó chưa biết tất còn đắc chí, vậy ta nên tha những quân bị bắt về báo tin cho Thoát Hoan, thì quân sỹ nó tât ngã lòng, bấy giờ phá mới dễ".

            Hưng Đao Vương tuân lệnh, tha cho lũ quân Nguyên bị bắt về. Từ đấy, quân Thoát Hoan xôn xao, có bụng muốn về nước vì lương thực mỗi ngày một cạn.

            Thoát Hoan muốn cho người về nước cầu viện và lấy thêm lương thực, Hưng Đạo Vương đoán biết, đã sai tướng đem quân lên giữ núi Kỳ Cấp và ải Nữ Nhi ở mặt Lạng Sơn không cho người đi lại.

            Thoát Hoan thấy quân thế của Hưng Đạo Vương mạnh lắm, chưa có thể phá được, bèn nghe lời các tướng, sai Ô Mã Nhi, Phàm Tiếp dẫn thủy quân theo đường sông Bạch Đằng về trước. Còn mặt bộ thì sai Trình Bằng Phi, Trương Quân dẫn binh đi chặn hậu.

            Hưng Đạo Vương biết mưu đó, bèn sai Nguyễn Khoái dẫn binh lẻn qua đường tắt, lên mé thượng lưu sông Bạch Đằng, dùng gỗ đẽo nhọn bịt sắt đóng khắp giữa dòng sông, rồi phục kích chờ đến lúc nước thủy triều lên thì đem binh thuyền ra khiêu chiến, nhử cho thuyền giặc qua chỗ đóng cọc. Hễ lúc nào thủy triều xuống thì quay binh lại hết sức mà đánh.

            Tháng 3 năm Mậu Tý (1288), quân ta nhử địch đuổi theo khi nước thuỷ triều lên, đến lúc thuỷ triều xuống thì thuyền sa vào trận địa cọc, quân ta đánh quật lại, Hưng Đạo Đại Vương dẫn quân tấn công mãnh liệt ở mọi phía, quân giặc chết như rạ, máu loang đỏ cả khúc sông Bạch Đằng. Quân ta bắt sống Ô Mã Nhi, Tích Lệ Cơ Ngọc, Phàn Tiếp và hơn 400 thuyền chiến, bắt được quân giặc rất nhiều.

            Thoát Hoan nghe tin thủy quân đã vỡ rồi, hốt hoảng dẫn bọn Trình Băng Phi, A Bát Xích, Trương Quân, Trương Ngọc theo đường bộ chạy về ải Nội Bàng, bỗng gặp quân phục của Phạm Ngũ Lão đổ ra đánh, Trương Quân dẫn 300 quân đi đoạn hậu để bảo vệ cho Thoát Hoan chạy. Trương Quân đã bị Phạm Ngũ Lão chém chết, Thoát Hoan chạy thoát ra được ngoài cửa ải, còn quân sĩ mười phần, tổn thất 6-7 phần.

            Từ cửa ải Nữ Nhi đến núi Kỳ Cấp đều có quân ta phục sẵn. A Bát Xích, Trương Ngọc bị quân ta bắn tên độc xuống như mưa, cả hai tên tướng giặc đều bị bắn chết. Còn Trình Bằng Phi hết sức bảo vệ cho Thoát Hoan chạy ra Đan Kỳ, qua Lộc Châu rồi lẻn qua đường tắt chạy về châu Tự Minh.

            Áo Lỗ Xích đi sau, chạy thoát được, mới nhặt nhạnh toàn quân theo cả Thoát Hoan về Yên Kinh.

            Thế là, chỉ trong vòng chưa đầy nửa năm, cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông lần thứ ba của quân dân Đại Việt giành được thắng lợi hoàn toàn.

            Vua Trần Nhân Tông đã cho đem các tướng giặc bị bắt là Tích Lệ Cơ Ngọc, Ô Mã Nhi, Sầm Đoàn, Phàn Tiếp, nguyên soái Điền và các Vạn hộ, Thiên hộ làm lễ dâng thắng trận ở Chiêu Lăng:

            Khi vua cử lễ bái yết, có làm bài thơ rằng:

Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã

Sơn hà thiên cổ điện kim âu.

Dịch:

(Xã tắc hai phen bon ngựa đá,

Non sông ngàn thuở vững âu vàng).

            Trong lễ mừng công khen thưởng chiến thắng quân Nguyên - Mông lần thứ 3, nhà vua đã cho tù trưởng Lạng Giang là Lương Uất làm trại chủ Quy Hoá, Hà Tất Năng làm Quan Phục hầu vì đã có công chỉ huy người dân tộc thiểu số đánh giặc, một lần nữa thể hiện rõ sức mạnh đoàn kết giữa cộng đồng các dân tộc Đại Việt dưới triều Trần.

            Sau 14 năm ở ngôi Vua, Trần Nhân Tông nhường ngôi cho con là Anh Tông, làm Thái thượng Hoàng rồi sau đi tu, trở thành Thuỷ tổ của phái Thiền Trúc Lâm Yên Tử.

            Năm 1308, Trần Nhân Tông qua đời tại Am Ngoạ Vân núi Yên Tử (Đông Triều, Quảng Ninh ngày nay) thọ 51 tuổi.

4. Trần Anh Tông (Trần Thuyên) (1293-1314):

Niên hiệu: Hưng Long (1293-1314)

            Tên huý là Thuyên, con trưởng của Trần Nhân Tông và mẹ là Khâm Từ Bảo Thánh Hoàng Thái hậu, có hai em là Huệ Võ Vương Quốc Chẩn và em gái là Huyền Trân công chúa.

            Trần Anh Tông sinh ngày 17 tháng 9 năm Bính Tý (1276).

            Tháng 02 năm Nhâm Thìn (1292), được tấn phong Thái tử. Tháng 3 năm Quý Tỵ (1293) lên ngôi Hoàng đế, đặt niên hiệu là Hưng Long.

            Trần Anh Tông khéo biết kế thừa sự nghiệp của tổ tiên, cho nên thời cuộc đi đến thái bình, chính trị trở nên tốt đẹp, văn vật chế độ ngày càng thịnh vượng, cũng là một vua tốt của triều Trần.

            Tháng 6 năm Bính Ngọ (1306), Trần Anh Tông gả công chúa Huyền Trân (em gái) cho vua Chiêm Thành là Chế Mân. Vua Chiêm Thành dâng hai châu Ô, châu Lý làm lễ vật dẫn cưới.

            Tháng Giêng năm Đinh Mùi (1307), Trần Anh Tông đổi hai châu đó thành châu Thuận, châu Hóa và sai Hành Khiển Đoàn Nhữ Hài đến kinh lý và đặt quan cai trị hai châu đó.

            Ngày 18 tháng 3 năm Giáp Dần (1314), Anh Tông nhường ngôi cho thái tử Mạnh, để làm Thượng hoàng.

            Ngày 16 tháng 3 năm Canh Thân (1320), Thượng hoàng Trần Anh Tông mất, trị vì được 21 năm, thọ 45 tuổi.

5. Trần Minh Tông (Trần Mạnh) (1314-1329):

Niên hiệu:- Đại Khánh (1314-1323)

                  - Khai Thái (1324-1329)

            Tên huý là Mạnh, con thứ tư của Trần Anh Tông, mẹ là Chiêu Hiến Hoàng Thái hậu Trần Thị, con gái của Bảo Nghĩa đại vương Trần Bình Trọng, sinh năm Canh Tý (1300).

            Ngày 18 tháng 3 năm Giáp Dần (1314) lên ngôi Hoàng đế, đặt niên hiệu là Đại Khánh.

            Trần Minh Tông có lòng nhân hậu, biết tôn trọng nhân tài nên có nhiều hiền thần dưới trướng như Phạm Ngũ Lão, Trương Hán Siêu, Chu Văn An, Nguyễn Trung Ngạn, Đoàn Nhữ Hài, nhưng đã quá tin bọn nịnh thần giết oan chú ruột, đồng thời là bố vợ là Huệ Võ Vương Trần Quốc Chẩn, một lỗi lầm lớn của Trần Minh Tông.

            Năm Ất Tỵ (1329), Vua nhường ngôi cho thái tử Vượng.

            Ngày 19 tháng 12 năm Đinh Dậu (1357), Minh Tông mất, thọ 58 tuổi.

6. Trần Hiến Tông (Trần Vượng) (1329-1341):

Niên hiệu: Khai Hựu (1329-1341)

            Tên huý là Vượng, con bà Minh Từ hoàng thái phi Lê Thị, sinh ngày 17 tháng 5 năm Kỷ Mùi (1319). Ngày 15 tháng 02 năm Kỷ Tỵ (1329) lên ngôi vua mới 10 tuổi, ở ngôi 12 năm, nhưng việc điều khiển triều chính đều do Thượng hoàng Minh Tông đảm nhận.

            Ngày 11 tháng 6 năm Tân Tỵ (1341), Trần Hiến Tông mất, thọ 23 tuổi.

7. Trần Dụ Tông (Trần Hạo) (1341-1369):

Niên hiệu:         - Thiệu Phong (1341-1357)

                          - Đại Trị (1358-1369)

            Tên huý là Trần Hạo, con thứ 10 của Minh Tông, do Hiến Từ hoàng hậu sinh ra.

            Trần Dụ Tông sinh ngày 19 tháng 10 năm Bính Tý (1336), lên ngôi vua ngày 21 tháng 8 năm Tân Tỵ (1341).

            Vua rất thông tuệ, học vấn cao minh, chăm lo việc võ, sửa sang việc văn, cho nên đời Thiệu Phong chính sự tốt đẹp.

            Năm 1358, Vua đổi niên hiệu là Đại Trị. Thượng hoàng Minh Tông mất, các trung thần như Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn cũng đã mất, bọn gian thần kéo bè kéo đảng, Dụ Tông sinh ra rượu chè chơi bời quá độ, khiến cho triều đình đổ nát, giặc giã nổi lên như ong, nhân dân cực khổ trăm bề. Chu Văn An dâng "sớ thất trảm" xin chém đầu 7 gian thần, nhưng vua không nghe, ông liền treo ấn từ quan về dạy học.

            Năm Kỷ Dậu (1369), vua Dụ Tông mất, ở ngôi được 28 năm, thọ 34 tuổi.

            Dụ Tông mất thì bão táp ở cung đình nhà Trần nổi lên vì bà Hoàng thái hậu nhất định đòi lập người con nuôi của Cung Túc Vương là Dương Nhật Lễ lên ngôi.

Dương Nhật Lễ (1369-1370):

Niên hiệu: Đại Định (1369-1370)

            Dương Nhật Lễ vốn là con của người kép hát tên là Dương Khương. Vợ Dương Khương đã có thai với Dương Khương rồi mới lấy Cung Tuc Vương Dục (là con thứ của Trần Minh Tông). Khi Dương Nhật Lễ sinh ra Cung Túc Vương nhận làm con nhưng chẳng bao lâu Cung Túc Vương mất.

            Khi Dụ Tông mất, quyền bính nằm hết trong tay bà Hiến Từ Tuyên Thánh Hoàng Thái hậu.

            Ngày 15 tháng 6 năm Kỷ Dâu (1369), Hiến Từ Tuyên Thánh Hoàng Thái hậu đưa Dương Nhật Lễ lên ngôi vua, lấy niên hiệu là Đại Định (1369-1370).

            Nhật Lễ lên làm vua muốn cải họ Dương để dứt ngôi nhà Trần. Hắn giết bà Hoàng Thái Hậu, và Cung Định Vương. Cung Tĩnh Vương hoảng sợ bỏ trốn lên Đà Giang.

            Các tôn thất nhà Trần hội nhau khởi binh giết chết Nhật Lễ rồi lên Đà Giang rước Cung Tĩnh Vương về làm vua, tức là Trần Nghệ Tông.

8. Trần Nghệ Tông (Trần Phủ) (1370-1372):

Niên hiệu: Thiệu Khánh (1370-1372)

            Trần Nghệ Tông tên huý là Trần Phủ, sinh tháng 12 năm Tân Dậu (1321) con thứ ba của Minh Tông và bà Minh Từ Hoàng Thái phi họ Lê, lên ngôi vua ngày 15 tháng 11 năm Canh Tuất (1370), sau khi đã lật đổ Dương Nhật Lễ.

            Vua ở ngôi được 02 năm, nhường ngôi 27 năm, thọ 74 tuổi.

            Vua dẹp yên được nạn bên trong, khôi phục cơ đồ nhà Trần, song cung kính kiệm ước thì có thừa mà cương nghị, quyết đoán lại không đủ. Bên ngoài, vua Chiêm Thành là Chế Bồng Nga đem quân vượt biển vào cửa Đại An tiến đánh kinh đô Thăng Long, quân ta chống không nổi. Vua Nghệ Tông phải bỏ kinh thành chạy sang Đình Bảng lánh nạn. Quân Chiêm Thành vào đốt sạch cung đình, bắt đàn bà con gái, lấy hết vàng bạc châu báu rồi rút quân về. Ngày 9 tháng 11 năm Nhâm Tý (1372), Nghệ Tông nhường ngôi cho em là Trần Kính, lui về Thiên Trường làm Thái Thượng hoàng.

9. Trần Duệ Tông (Trần Kính) (1373-1377):

Niên hiệu: Long Khánh (1373-1377)

            Tên huý là Kính, con thứ 11 của Minh Tông, em Nghệ Tông, mẹ là Đôn Từ Hoàng Thái phi, sinh ngày 02 tháng 6 năm Đinh Sửu (1337). Khi Nghệ Tông lánh nạn, Trấn Kính chiêu mộ quân lính, vũ khí, lương thực để đánh Nhật Lễ, đón Nghệ Tông về, nên được nhường ngôi, làm vua được 5 năm, thọ 41 tuổi. Duệ Tông ương gàn cố chấp, không nghe lời can, khinh thường quân giặc nên mang hoạ vào thân.

            Năm Bính Thìn (1376), Vua Chiêm Thành là Chế Bồng Nga đem sang cống 10 mâm vàng, quan chấn thủ Hóa Châu là Đỗ Tử Bình ỉm đi, cướp làm của mình rồi dâng sớ nói dối là Chế Bồng Nga ngạo mạn, vô lễ, xin vua cử binh sang đánh.

            Tháng 12 năm 1376, nghe lời tấu man của Đỗ Tử Bình (trấn thủ Hoá Châu) Nhà Vua thân chinh đem 12 vạn quân đi đánh Chiêm Thành, tháng Giêng năm 1377 đại quân tiến đến cửa Thị Nại (Quy Nhơn). Chế Bồng Nga dựng trại bên ngoài thành Đồ Bàn (Bình Định) rồi cho Mục Bà Na đến trá hàng nói là Chế Bồng Nga đã bỏ thành chạy trốn. Ngày 24 tháng Giêng, Vua thúc quân tiến vào thành. Đại tướng Đỗ Lễ can mãi Vua không nghe cứ tiến quân đến chân thành Đồ Bàn thì quân Chiêm Thành ở bốn phía đổ ra đánh, quân ta thua to. Vua chết trong đám loạn quân.

10. Trần Phế Đế (Trần Hiện) (1377-1388)

Niên hiệu: Xương Phù (1377-1388)

            Tên huý là Trần Hiện, con trưởng của Duệ Tông, mẹ là bà Gia Từ Hoàng hậu Lê Thị, sinh ngày 06 tháng 3 năm Tân Sửu (1361). Khi Duệ Tông chết ở mặt trận phương Nam, Nghệ Tông lập Hiện lên ngôi vua ngày 13 tháng 4 năm Đinh Tỵ (1377).

            Vua u mê, bạc nhược không làm nổi việc gì, uy quyền ngày càng về tay Hồ Quý Ly.

            Năm Mậu Ngọ (1378), quân Chiêm Thành lại sang đánh Nghệ An, rồi theo sông Đại Hoàng vào cướp phá kinh đô Thăng Long một lần nữa.

            Ngày 06 tháng 12 năm 1388, Thượng hoàng Nghệ Tông giáng Phế Đế xuóng làm Linh đức Đại vương, sau đó bắt thắt cổ chết, và lập con út của mình lên làm vua là Trần Thuận Tông.

11. Trần Thuận Tông (Trần Ngung) (1388-1398):

Niên hiệu: Quang Thái (1388-1398)

            Tên huý là Trần Ngung, là con út của Nghệ Tông, ở ngôi được 10 năm, xuất gia hơn 1 năm, thì bị Hồ Qúy Ly giết, thọ 22 tuổi. Vua chỉ ngồi giữ ngôi không, còn việc nước thì ở trong tay bố vợ là Hồ Quý Ly.

            Năm Kỷ Tỵ (1389), Chế Bồng Nga lại đem quân sang đánh Đại Việt, Hồ Quý Ly đưa quân cự chiến nhưng thua trận phải rút chạy. Thượng hoàng sai đô tướng là Trần Khát Chân đem quân đi chặn giặc.

            Tháng Giêng năm Canh Ngọ (1390), Chế Bồng Nga đi thị sát trận địa của Trần Khát Chân ở Hải Triều (Hưng Nhân, Thái Bình và Tiên Lữ, Hưng Yên) nhân có tên tiểu thần của Chế Bồng Nga là Ba Lậu Kê bị Chế Bồng Nga trách phạt, chạy sang hàng quân ta cho Trần Khát Chân hay dấu hiệu đặc biệt của thuyền chở Chế Bồng Nga. Trần Khát Chân đã khéo dụ địch sa vào trận mai phục rồi ra lệnh cho các cây súng (hoả súng) nhất tề nhả đạn, bắn trúng thuyền Chế Bồng Nga, xuyên suốt ván thuyền. Chế Bồng Nga trúng đạn chết tại trận. Trần Khát Chân chém đầu Chế Bồng Nga đem về triều dâng Vua và Thượng hoàng.

            Tướng Chiêm Thành là La Ngai đem tàn quân chạy về nước chiếm ngôi vua. Hai con của Chế Bồng Nga là Chế Ma Nô Đà Nan và Chế Sơn Nô sợ bị giết, đã chạy sang hàng Đại Việt, được vua Trần trọng dụng.

            Ngày 15 tháng 02 năm Giáp Tuất (1394), Thượng hoàng Trần Nghệ Tông mất, Hồ Quý Ly lên làm phụ chính Thái sư, thâu tóm toàn bộ quyền bính để dễ đường cướp ngôi vua. Hồ Quý Ly quyết định dời đô vào Thanh Hoá, xây thành Tây Đô (ở động An Tôn, Vĩnh Lộc).

            Tháng 11-1397, Hồ Quý Ly bức Vua Thuận Tông phải dời kinh về Tây Đô.

            Tháng 3-1398, ép Thuận Tông nhường ngôi cho con trai là Trần Án để đi tu ở cung Bảo Thanh tại nuí Đại Lại (Thanh Hoá).

12. Trần Thiếu Đế (Trần Án) (1398-1400)

Niên hiệu: Kiến Tân (1398-1400)

            Tên huý là Trần Án, mới 3 tuổi lên kế nghiệp tức là Thiếu Đế. Hồ Quý Ly xưng là Khâm Đức Hưng Liệt đại vương, rồi sai người giết con rể là Thuận Tông.

            Ngày 28 tháng 02 năm Canh Thìn (1400), Hồ Quý Ly bức Thiếu Đế nhường ngôi.

            Triều Trần kể từ Trần Thái Tông Đến Trần Thiếu Đế là 12 đời vua, trị vì được 175 năm.

            Dân tộc ta rất đáng tự hào dưới triều Trần, có những vị vua anh hùng như Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông đã lãnh đạo quân dân Đại Việt ba lần đánh tan quân xâm lược Nguyên - Mông, một đế quốc hùng mạnh nhất thế giới bấy giờ, một đế quốc rộng mông mênh từ bờ Thái Bình Dương đến Hắc Hải.

            Song, cơ nghiệp nhà Trần suy vi từ Dụ Tông, Nghệ Tông. Dụ Tông thì hoang chơi vô độ, bỏ bễ chính sự, làm loạn kỷ cương phép nước, làm cho dân nghèo, nước yếu.

            Nghệ Tông thì nhu nhược không biết dùng hiền thần mà chỉ nghe bọn nịnh thần, làm cho cơ nghiệp nhà Trần về tay kẻ khác.

Phần đọc thêm

NHÂN VẬT LỊCH SỬ NỔI TIẾNG THỜI TRẦN

            Đất nước Việt Nam,ta thời nào cũng sản sinh ra những anh hùng dân tộc và những danh nhân của đất nước, dưới đây chúng tôi chỉ xin giới thiệu một số "nhân vật lịch sử nổi tiếng thời Trần".

LINH TỪ QUỐC MẪU TRẦN THỊ DUNG

            Trần Thị Dung là con gái Trần Lý, em gái của Trần Thừa và Trần Tự Khánh và là anh em họ với Trần Thủ Độ.

            Thái Tử Sảm chạy loạn Quách Bốc về ở nhờ Hải ấp của ông Trần Lý, thấy Trần Thị Dung xinh đẹp xin lấy làm vợ vào năm 1209.

            Anh em nhà Trần đã mộ quân lính dẹp loạn Quách Bốc đón vua Lý Cao Tông và Thái tử Sảm về Triều.

            Cuối năm 1210, Thái tử Sảm lên ngôi hoàng đế là Lý Huệ Tông lập Trần Thị Dung làm nguyên phi, đến giữa năm 1216 được phong làm Hoàng hậu.

            Trần Thị Dung cùng với Lý Huệ Tông sinh được hai công chúa: Thuận Thiên công chúa gả cho Trần Liễu và Chiêu Thánh công chúa (tức là Lý Chiêu Hoàng) lấy Trần Cảnh. Lý Huệ Tông đi tu rồi chết. Tháng 12-1225, Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng là Trần Thái Tông.

            Tháng 8-1226, nhà Trần đã gả Hoàng hậu triều Lý là Trần Thị Dung cho Thái sư Trần Thủ Độ.

            Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông lần thứ nhất, bà Trần Thị Dung đã có công chỉ huy hoàng tộc chủ động rút khỏi kinh đô Thăng Long, sau đó lại lo liệu thu nhặt sắt thép, động viên các hiệp thợ ngày đêm rèn đúc vũ khí để cung cấp cho quân ta. Bà còn lo liệu cả lương thực, thực phẩm để cung cấp cho quân đội đánh giặc.

            Sau chiến thắng ở Đông Bộ Đầu vào tháng 01-1258, quân dân Đại Việt đuổi giặc Nguyên - Mông ra khỏi bờ cõi, giữ vững nền độc lập của Tổ quốc.

            Với công lao to lớn của bà, nhà Vua đã sắc phong bà là Linh Từ Quốc Mẫu.

THÁI SƯ TRẦN THỦ ĐỘ

            Trần Thủ Độ sinh năm Giáp Dần (1194), ở làng Lưu Xá (Hưng Hà, Thái Bình) là cháu họ ông Trần Lý, được ông Trần Lý nuôi dạy từ nhỏ và coi như con. Trần Thủ Độ và Trần Thị Dung rất yêu nhau, nhưng khi Thái tử Sảm lánh nạn về ở nhờ nhà ông Trần Lý thấy Trần Thị Dung xinh đẹp, xin cưới làm vợ, Trần Thủ Độ vì sự nghiệp gây dựng cơ đồ nhà Trần, ông đã phải hy sinh mối tình đầu, để người yêu đi lấy Thái tử Sảm. Anh em nhà Trần đã mộ quân giúp triều Lý đánh dẹp các thế lực cát cứ, khôi phục lại cơ đồ nhà Lý.

            Ông mặc dù ít học, nhưng là người mưu lược, quyết đoán, là người có công đầu xây dựng cơ nghiệp nhà Trần.

            Cuối triều Lý, các vua ăn chơi sa đoạ, nhu nhược, kinh tế đất nước suy thoái, thiên tai mất mùa liên tiếp, đời sống của nhân dân vô cùng cực khổ, giặc dã nổi lên như ong. Ngoài biên ải, đế quốc Mông Cổ đã chiếm hầu hết châu Âu đến tận Hắc Hải và đang tung hoành đánh Kim, diệt Tây Hạ, chiếm Cao Ly, xâm chiếm nhà Tống, và sửa soạn xâm lược Đại Việt.

            Trước tình hình nguy ngập đó, nếu cứ để triều đại nhà Lý yếu hèn như vậy, thì đất nước ta không thể tránh khỏi hoạ diệt vong.

            Trần Thủ Độ đã ép vua Lý Huệ Tông nhường ngôi cho con gái 7 tuổi là Lý Chiêu Hoàng. Chính việc ông thu xếp cho Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh là hết sức khôn ngoan và hợp với quy luật hưng vong, làm một cuộc đảo chính cung đình để thay đổi triều đại mà không xẩy ra đổ máu, còn tạo cho đất nước bước vào thế ổn định, để xây dựng lực lượng về kinh tế cũng như quân sự, chuẩn bị đương đầu với những thử thách vô cùng to lớn và cực kỳ nguy hiểm trong tương lai. Những điều đó chứng tỏ Trần Thủ Độ là một nhà chính trị, nhà chiến lược có tầm nhìn xa, thấy rộng.

            Sau khi lên ngôi vua, Trần Thái Tông cho Trần Thủ Độ làm Thái sư nắm giữ mọi binh quyền. Chỉ trong một thời gian ngắn, ông đã thu phục được các thế lực đối địch, tổ chức lại bộ máy chính quyền từ trung ương đến cấp xã.

            Ông là người trung thực, hết lòng vì việc nước, biết nghe lời nói thẳng. Bấy giờ có kẻ đàn hặc ông, vào gặp Thái Tông, khóc mà nói rằng: "Bệ hạ còn thơ ấu mà Trần Thủ Độ thì quyền át cả Vua, xã tắc rồi sẽ ra sao?".

            Thái Tông lập tức đến dinh Trần Thủ Độ, đem theo cả người đàn hặc. Vua nói với Trần Thủ Độ:

            "Trẫm biết Thượng phụ chỉ có tấm lòng son vì nước chứ không có bụng riêng nào. Vậy mà kẻ kia thấy ông nắm giữ mọi binh quyền, dám ngờ vực xằng bậy, tâu với Trẫm là Thượng phụ chuyên quyền có thể không hay cho xã tắc. Đó là lời nói có hại đến nghĩa vua tôi và tình cảm chú cháu giữa Thượng phụ và trẫm".

            Trần Thủ Độ trầm ngâm suy nghĩ rồi tâu:

            "Đúng như những lời hắn nói. Thật quả có chuyên quyền. Thế mới biết trăm người vâng dạ không bằng một người nói thẳng. Trong triều chỉ duy có người này ngay thẳng, bạo dạn, dám nói những điều người khác chỉ dám nghĩ. Một triều đại muốn thịnh trị là phải khuyến khích người nói thật".

            Nói xong, xin phép Vua lấy tiền lụa thưởng cho người ấy.

            Linh Từ Quốc Mẫu có lần ngồi kiệu đi qua thềm cấm, bị quân hiệu ngăn lại, về dinh khóc bảo Trần Thủ Độ: "Mụ này là vợ ông, mà bị bọn quân hiệu khinh nhờn đến thế!".

            Trần Thủ Độ sai người đi bắt, người quân hiệu ấy nghĩ rằng chắc chắn là phải chết. Khi đến nơi, Trần Thủ Độ vặn hỏi trước mặt. Người quân hiệu ấy cứ theo sự thực trả lời. Trần Thủ Độ nói: "Ngươi ở chức thấp mà giữ được luật pháp, ta còn trách gì nữa". Liền lấy vàng lụa thưởng rồi cho về.

            Trần Thủ Độ có lần đi duyệt định số hộ khẩu, Quốc Mẫu xin riêng cho một người cháu làm câu đương (chức dịch thu thuế ở xã). Khi xét duyệt ở xã ấy, gọi đến tên đó, đương sự mừng rỡ chạy đến. Trần Thủ Độ bảo hắn:

            "Ngươi vì có công chúa xin cho được là câu đương, không thể ví như những câu đương khác được, phải chặt một ngón chân để phân biệt với người khác".

            Người đó kêu van xin thôi, mãi mới tha cho. Từ đó, không ai dám đến xin vì việc riêng nữa.

            Trong cuộc kháng chiến chống quân Mông Cổ lần thứ nhất, Trần Thủ Độ đóng vai trò vô cùng quan trọng. Thế giặc rất mạnh, Vua phải bỏ kinh đô Thăng Long, lui quân về giữ sông Thiên Mạc (Mạn Trù, Hưng Yên). Vua ngự trên chiếc thuyền nhỏ đến thuyền Thái uý Trần Nhật Hiệu hỏi kế sách chống giặc. Nhật Hiệu cứ ngồi chứ không đứng dậy nổi, chỉ lấy ngón tay chấm nước viết lên mạn thuyền hai chữ "Nhập Tống". Vua hỏi quân Tinh Cương (do Nhật Hiệu chỉ huy) ở đâu? Nhật Hiệu trả lời: "Không gọi được chúng đến".

            Vua lập tức rời thuyền đến hỏi Thái sư Trần Thủ Độ. Ông khảng khái trả lời: "Đầu tôi chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo!".

            Vào lúc gay go nhất của cuộc kháng chiến, ngàn cân treo sợi tóc, câu trả lời đanh thép của Trần Thủ Độ đã giữ vững được tinh thần quyết chiến của quân dân Đại Việt. Ông thực sự trở thành linh hồn của cuộc kháng chiến chống quân Mông Cổ lần thứ nhất và là người lãnh đạo cuộc phản công quyết liệt đánh vào Đông Bộ Đầu, buộc quân giặc phải rút chạy về nước, giữ vững được độc lập cho Tổ quốc.

            Sử sách thời xưa thường chê Trần Thủ Độ là vô học, gian hùng như Tào Tháo, có công với triều Trần nhưng có tội với triều Lý như đã ép Lý Huệ Tông phải chết và giết chết các tôn tộc nhà Lý bằng cách bày mưu chôn sống họ, khi đang tế lễ ở nhà thờ họ Lý (Đông Ngàn, Bắc Ninh) - "Đại Việt sử ký toàn thư" tồn nghi là chưa chắc đã có thật.

            Trần Thủ Độ mất tháng Giêng năm Giáp Tý (1264), thọ 71 tuổi, được truy tặng Thượng phụ Thái sư Trung Vũ Đại Vương. Thượng hoàng Trần Thái Tông có bài văn bia ở sinh từ để tỏ lòng đặc biệt quý mến ông. Nhiều nơi lập đền thờ để tưởng nhớ công lao của Trần Thủ Độ. 

HƯNG ĐẠO ĐẠI VƯƠNG TRẦN QUỐC TUẤN

            Hơn bảy trăm năm trước, cả Á, Âu đang trong cơn kinh hoàng, khiếp đảm về cái hoạ Tác-ta (giặc Mông), khi chúng lướt trên vó ngựa viễn chinh tàn phá hết nước này sang nước khác. Từ Thái Bình Dương đến tận bên bờ Địa Trung Hải, khắp Á, Âu chưa có một danh tướng nào cản được. Giáo hoàng La Mã sợ hãi đến nỗi "... tuỷ khô, thân gầy, sức kiệt". Người Đức hằng ngày cầu nguyện: "Xin chúa cứu vớt chúng con khỏi cơn thịnh nộ Tác-ta!". Vó ngựa của chúng tới đâu cỏ cây đều không mọc được. Vậy mà ở miền Đông Nam Châu Á lũ giặc Tác-ta ấy đã phải kinh hồn, lạc phách trước ý chí chiến đấu và tài nghệ quân sự tuyệt vời của quân dân Đại Việt dưới sự chỉ huy thiên tài của Quốc Công Tiết chế, Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn.

            Công lao to lớn của Người, ba lần tổng chỉ huy quân dân Đại Việt cản phá quân Nguyên - Mông hung bạo, đánh cho chúng thất điên bát đảo. Trấn Nam Vương Thoát Hoan phải chui vào ống đồng có người kéo qua biên ải mới thoát chết.

            Với tài thao lược, trí dũng song toàn, luôn đặt lợi ích dân tộc và đất nước lên trên hết, Trần Hưng Đạo không chỉ sống mãi trong lòng mọi người dân đất Việt mà còn vang danh khắp năm châu bốn biển. Trần Quốc Tuấn (1228-1300) là một anh hùng kiệt xuất của dân tộc ta đồng thời là danh nhân quân sự cổ kim của thế giới.

            Người sinh ngày 10-12-1228 (Mậu Tý) là con An Sinh Vương Trần Liễu (anh ruột Trần Thái Tông - Trần Cảnh).

            Người dung mạo hùng vĩ, thông minh hơn người, xem rộng biết nhiều, đủ tài văn võ, chuyên tâm nghiên cứu lục thao tam lược của người xưa và dành cả tâm huyết và hiểu biết của mình để viết: Binh thư yếu lược, Vạn Kiếp tông bí truyền thư, Hịch tướng sĩ để dạy các tướng cầm quân đánh giặc, khích lệ lòng yêu nước của quân dân Đại Việt.

            Người luôn luôn đặt lợi ích của dân tộc, của đất nước trên thù nhà, luôn luôn vun trồng cho khối đoàn kết giữa tôn tộc nhà Trần, để tạo cho thế nước ở đỉnh cao muôn trượng, đủ sức đè bẹp quân thù nguy hiểm.

            Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông lần thứ hai, thấy rõ nếu để ngành trưởng và ngành thứ xích mích nghi kỵ nhau thì chỉ có lợi cho kẻ thù. Người đã chủ động giao lưu hoà hiếu với Thái sư Trần Quang Khải, tạo nên sự đoàn kết nhất trí trong Vương triều Trần, bảo đảm đánh thắng quân thù.

            Chuyện kể rằng: một hôm Hưng Đạo Vương ở bến Bình Than sai người mời Trần Quang Khải sang thuyền mình trò chuyện, chơi cờ rồi sai người nấu nước thơm tự mình cùng tắm rửa với Trần Quang Khải, từ đó vĩnh viễn xoá bỏ hiềm khích giữa hai chi họ (Quốc Tuấn là con Trần Liễu ngành trưởng, Quang Khải con Trần Cảnh ngành thứ).

            Lần khác, người đem việc xích mích cũ ra dò ý các con. Con cả Quốc Hiến nói rằng: "Dẫu họ khác cũng còn không nên, huống chi là cùng một họ!" Người cho là phải.

            Hôm khác, người lại hỏi người con thứ là Quốc Tảng. Quốc Tảng thưa rằng:

            "Tống Thái Tổ vốn là một ông lão làm ruộng, đã thừa cơ dấy vận nên có được thiên hạ".

            Người nổi giận, rút gươm kể tội:

            "Tên loạn thần là từ đứa con bất hiếu mà ra!"

            Rồi định giết Quốc Tảng. Quốc Hiến vội chạy đến khóc lóc xin tha tội cho em, người mới tha và dặn Quốc Hiến:

            "Sau khi ta chết, đậy nắp quan tài vào đã rồi mới cho Quốc Tảng vào viếng!"

            Cả ba lần chống giặc Nguyên - Mông, các vua Trần đều giao cho Ông quyền Quốc Công Tiết chế (tức là Tổng tư lệnh quân đội) vì Ông biết dùng người tài, thương yêu binh lính, nên tướng sĩ ai cũng hết lòng tin yêu Ông. Đội quân phụ tử ấy đã trở thành đội quân bách chiến bách thắng.

            Đầu năm 1285, quân Nguyên ào ạt tiến quân vào xâm lược nước ta, để bảo toàn lực lượng, Hưng Đạo Đại vương đã ra lệnh cho quân và dân làm "vườn không, nhà trống" rồi rời khỏi kinh đô Thăng Long. Thấy thế giặc quá mạnh. Bọn Văn Nghĩa hầu Trần Tú Viên, Văn Chiêu hầu Trần Lộng, Chiêu Quốc vương Trần Ích Tắc đem cả gia quyến sang hàng giặc. Trước tình hình gay cấn đó, Trần Nhân Tông triệu Trần Hưng Đạo đến và nói: "Kẻ thù rất mạnh, ta e rằng chiến tranh kéo dài sẽ làm đất nước tổn hại, hay là ta đầu hàng để cứu dân". Trần Hưng Đạo trả lời: "Nếu bệ hạ muốn hàng, xin hãy chém đầu thần trước đã!" Bởi lẽ, một người rất tự tin như Trần Hưng Đạo đã nắm chắc phần thắng trong tay.

            Mùa hè đến, quân Nguyên vừa mệt mỏi, vừa thiếu đói lại thêm dịch bệnh ốm đau, tinh thần thêm hoảng loạn. Trong khi đó quân đội Đại Việt vẫn bảo tồn được lực lượng lại tăng thêm sĩ khí, chứng minh phép "dĩ đoản, chế trường" của Hưng Đạo Vương thêm màu nhiệm.

            Tháng 5 năm 1285, sau khi đẩy quân Nguyên - Mông vào thế trận đã bầy sẵn với toàn bộ sự nguy khốn nên chúng đang bị sa lầy, Trần Hưng Đạo mở cuộc phản công dữ dội toàn bộ hệ thống đồn trại trên sông Hồng, đích thân Người chỉ huy trận đánh lấy lại kinh đô Thăng Long, với những chiến thắng lẫy lừng ở Chương Dương, Hàm Tử, Tây Kết.... chỉ sau gần hai tháng phản công mãnh liệt, hơn nửa triệu quân xâm lược bị đuổi khỏi đất nước Đại Việt. Toa Đô bị chém đầu tại trận, chủ tướng Thoát Hoan phải chui vào ống đồng mới thoát chết.

            Trong kháng chiến chống quân Nguyên - Mông lần thứ ba (1288), Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn lại được Thượng hoàng Trần Thánh Tông và vua Trần Nhân Tông sắc phong làm Quốc Công Tiết chế chỉ huy toàn bộ quân dân Đại Việt kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên - Mông và đã giành được thắng lợi vĩ đại mà tiêu biểu là chiến thắng Bạch Đằng (3-1288) đạp tan toàn bộ hơn 50 vạn quân xâm lược Nguyên - Mông, giữ vững được nền độc lập của Tổ quốc ta.

            Mấy tháng trước khi Hưng Đạo Vương mất, vua Anh Tông đến thăm và hỏi:

            - Nếu chẳng may Quốc Công mất, giặc phương Bắc lại sang xâm lược thì kế sách giữ nước làm sao?

            Người đã trăng trối những lời tâm huyết, sâu sắc, đúng cho muôn đời:

            - "…Thời bình phải khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước…" (Đại Việt sử ký toàn thư. Tập II, trang 79).

            Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn có tư tưởng quân sự tiến bộ. Người nói:

            "Vua tôi đồng lòng, anh em hòa thuận, cả nước chung sức. Tóm lại giặc cậy trường trận, ta cậy đoản binh. Lấy đoản chế trường là việc thường của binh pháp. Nếu thấy quân giặc đến ào ạt, như lửa cháy, gió thổi thì dễ chế ngự. Nếu chúng đi chậm tựa tầm ăn, không cần của dân, không cần được chóng, thì phải chọn dùng tướng giỏi, xem xét quyền biến như đánh cờ vậy, tùy thời mà làm, có thu được binh lính như cha con một nhà thì mới dùng được, vả lại khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước…"

            Hưng Đạo Đại Vương đã để lại cho dân tộc ta tư tưởng chính trị tiến bộ và tài thao lược bất hủ - để đời này sang đời khác, dân tộc ta đánh thắng các kẻ thù xâm lược mạnh hơn ta gấp bội.

            Mùa thu tháng Tám, ngày 20 năm Canh Tý (1300) "Bình Bắc Đại nguyên soái" Hưng Đạo Đại Vương qua đời. Theo lời Người dặn, thi hài Người được hoả táng thu vào bình đồng và chôn trong vườn An Lạc, gần cánh rừng An Sinh, không xây lăng mộ, đất san phẳng, trồng cây như cũ. Vua truy tặng Thái sư Thượng Phụ Quốc Công Nhân Vũ Hưng Đạo Đại Vương. Nhân dân ta lập đền thờ ở nhiều nơi để tưởng nhớ công lao to lớn của Hưng Đạo Đại Vương.

THƯỢNG TƯỚNG THÁI SƯ TRẦN QUANG KHẢI

            Trần Quang Khải (1240-1294) là con trai của vua Trần Thái Tông (Trần Cảnh) và Hoàng hậu Thuận Thiên.

            Năm 1258 được phong tước Chiêu Minh Đại vương, khi 18 tuổi. Năm 1274, Ông được giao chức Tướng quốc Thái uý. Năm 1282, dưới triều vua Trần Nhân Tông được cử làm Thượng tướng Thái sư, nắm toàn quyền nội chính.

            Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ hai và lần thứ ba: Trần Quang Khải là vị tướng chủ chốt thứ hai, sau Quốc Công Tiết chế Trần Quốc Tuấn, lập nhiều chiến công lớn. Trần Quang Khải đã chỉ huy đánh tan quân Nguyên - Mông ở Chương Dương và những trận then chốt nhằm khôi phục kinh đô Thăng Long vào cuối tháng 5-1285.

            Trận đại thắng Chương Dương đã mở đường cho quân ta tiến nhanh đến thắng lợi cuối cùng, quét sạch giặc Nguyên - Mông ra khỏi bờ cõi.

            Kinh thành được thu phục, Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải hồ hởi đón vua Trần Nhân Tông cùng triều đình trở lại Thăng Long. Tiệc mừng chiến thắng vui đến nổ trời. Giữa cảnh tượng nức lòng người ấy, Trần Quang Khải cảm động đón lấy chén rượu mừng công còn đang sóng sánh của Nhà Vua ban tặng, và xin phép đọc bài thờ cảm khái:

Đoạt sáo Chương Dương độ

Cầm hồ Hàm Tử quan

Thái bình tu nỗ lực

Vạn cổ thử giang san!

Tạm dịch:

"Bến Chương Dương cướp giáo

Cửa Hàm Tử bắt thù

Thái bình nên gắng sức

Non nước này muôn thu!"

            Trần Quang Khải là một anh tài kiệt xuất không những về chính tri, quân sự, mà còn là một nhà thơ.

            Ông là tác giả tập thơ "Lạc Đạo". Ngày 03 tháng 7 năm 1294 (Giáp Ngọ) Thượng tướng Thái sư Chiêu Minh Đại Vương mất, thọ 54 tuổi.

CHIÊU VĂN ĐẠI VƯƠNG TRẦN NHẬT DUẬT

            Trần Nhật Duật (1253-1330) con trai thứ tư của Trần Thái Tông và Hoàng hậu Thuận Thiên. Từ bé đã nổi tiếng là ông Hoàng hiếu học và "sớm bộ lộ thiên tài, ham thích hiểu biết về các tiếng nói và các giống người".

            Do miệt mài rèn luyện mà Trần Nhật Duật nổi tiếng hiểu nhiều biết rộng, uy tín và tiếng tăm của ông vang dội ra cả nước ngoài. Học tiếng Tống và tiếng Chiêm Thành, ông chẳng những chỉ sử dụng thành thạo các ngôn ngữ ấy mà còn am hiểu cả phong tục, tập quán của họ. Đối với các dân tộc trong nước, ông không chỉ hiểu tiếng mà còn hiểu cả về người. Mới ngoài 20 tuổi, Trần Nhật Duật đã được vua Trần Nhân Tông giao đặc trách những công việc về các dân tộc có liên quan. Nhà vua thán phục, có lần nói đùa: "Chiêu Văn Vương có lẽ không phải người Việt mà là hậu thân của giống Phiên, Man". Tiếp xúc với các sứ thần triều Nguyên, có lần Trần Nhật Duật vui vẻ, tự nhiên trò chuyện suốt cả một ngày, khiến cho sứ Nguyên khăng khăng cho rằng Trần Nhật Duật là người Hán ở Chân Định (gần Bắc Kinh) sang làm quan bên Đại Việt.

            Câu chuyện sau đây chứng tỏ Trần Nhật Duật chẳng những giỏi các thứ tiếng mà còn là một nhà dân tộc học lỗi lạc.

            Ngày ấy, vua quan triều Trần được tin chúa đạo Đà Giang (Tây Bắc ngày nay) Trịnh Giác Mật nổi lên chống lại triều đình. Tin dữ đến trong lúc nhà Nguyên đang sửa soạn đại binh đánh Đại Việt, cần phải dẹp ngay mối loạn trong nước. Người đảm đương trọng trách cũng không ai hơn Trần Nhật Duật. Thế là vị Vương gia trẻ tuổi dưới cờ hiệu "Trấn thủ Đà Giang" lên đường.

            Trịnh Giác Mật định ám hại viên tướng trẻ triều Trần nên sai người đưa thư dụ Trần Nhật Duật: "Giác Mật không dám trái lệnh triều đình. Nếu ân chủ một mình một ngựa đến, Giác Mật xin ra hàng ngay". Muốn thu phục được Giác Mật, Trần Nhật Duật mặc các tướng can ngăn, một mình một ngựa đến trại Giác Mật, chỉ mang theo mấy tiểu đồng cắp tráp theo hầu. Thản nhiên đi giữa lớp gươm giáo và đám lính sắc phục kỳ dị cố ý phô trương uy hiếp của Giác Mật, Trần Nhật Duật nói với chúa đạo bằng chính ngôn ngữ và theo đúng phong tục của dân tộc Đà Giang:

            - Lũ tiểu đồng của ta khi đi đường thì nóng tai trái, vào đến đây thì nóng tai phải.

            Từ Giác Mật đến các đầu mục đều sững sờ, kinh ngạc trước sự am hiểu tiếng nói và tục lệ của Trần Nhật Duật. Rồi mâm rượu được bưng lên. Chúa đạo nheo mắt thách thức, đưa tay mời. Chỉ có quả bầu cắt đôi sóng sánh rượu và đĩa thịt nai muối. Trần Nhật Duật không chút ngần ngại cầm thịt ăn vừa nhai vừa ngửa mặt, cầm bầu rượu từ từ dốc vào lỗ mũi hết sức thành thạo.

            Trịnh Giác Mật kinh ngạc thốt lên: "Chiêu Văn Vương là anh em với ta".

            Trần Nhật Duật bấy giờ mới từ tốn nói: "Chúng ta xưa nay vẫn là anh em", rồi gọi tiểu đồng đến gần, tự tay mở tráp, lấy ra những chiếc vòng bạc sáng lóng lánh, trao tận tay cho từng đầu mục đạo Đà Giang, và chọn riêng cho chúa đạo Đà Giang một chiếc vòng lớn, lồng nguyên một chiếc vuốt cọp!

            Những người cầm đầu đạo Đà Giang chỉ còn biết hoan hỉ đón nhận tặng phẩm kết nghĩa theo đúng tục lệ của họ. Chúa đạo Đà Giang đã quy thuận. Sức mạnh của dân tộc được nhân lên gấp bội.

            Trong cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông lần thứ hai và lần thứ ba, Trần Nhật Duật đều lập được nhiều chiến công hiển hách, đặc biệt là trận Hàm Tử.

            Năm 1330 (Canh Ngọ) Tá Thánh Thái sư Chiêu Văn Đại Vương Trần Nhật Duật mất, thọ 77 tuổi.

NHÂN HUỆ VƯƠNG TRẦN KHÁNH DƯ

            Trần Khánh Dư là con Thượng tướng Trần Phó Duyệt, nhân có công đánh giặc Nguyên trong cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông lần thứ nhất, được vua Trần Thái Tông nhận làm con nuôi và phong đến chức Phiêu kỵ Tướng quân rồi đến chức Thượng Vị hầu. Sau Trần Khánh Dư mắc tội, bị triều đình giáng xuống làm dân thường phải đi bán than để kiếm sống ở Chí Linh.

            Trước cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ 2, ông được vua Trần Thánh Tông phục chức, được phong là Phó đô tướng quân.

            Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ 3, Trần Khánh Dư chịu trách nhiệm giữ vùng bờ biển, không chặn nổi thuỷ quân giặc, để chúng qua được cửa An Bang tiến về Vạn Kiếp, Thượng hoàng được tin, sai Trung sứ xiềng Khánh Dư giải về kinh trị tội. Trần Khánh Dư xin với Trung sứ: "Lấy quân pháp mà xử, tôi xin cam chịu tội, nhưng xin khất hai ba ngày để mưu lập công rồi về chịu búa rìu cũng chưa muộn".

            Trung sứ theo lời.

            Trần Khánh Dư liệu biết quân giặc đi qua, thuyền vận tải chở rất nặng tất theo sau, nên thu thập tàn quân đón chúng. Chẳng bao lâu thuyền vận tải quả nhiên đến, ông đổ quân ra đánh, lấy được lương thực, khí giới và bắt được tù binh nhiều không kể xiết, còn bao nhiêu thì đánh đắm xuống biển. Tướng giặc Trương Văn Hổ phải xuống chiếc thuyền con chạy trốn về đảo Hải Nam mới thoát chết.

            Ông được phong tước Nhân Huệ vương, mất năm 1329.

BẢO NGHĨA VƯƠNG TRẦN BÌNH TRỌNG

            Trần Bình Trọng vốn là hậu duệ của vua Lê Đại Hành, cha ông làm quan dưới triều vua Trần Thái Tông, có nhiều công lao được nhà vua ban quốc tính (họ Trần).

            Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ 2, ông đánh nhau với giặc ở bãi Đà Mạc (tức Thiên Mạc, nay là bãi Mạn Trù). Ông chiến đấu rất ngoan cường nhưng giặc quá đông bao vây vòng trong vòng ngoài, cuối cùng chúng bắt được ông.

            Khi bị bắt, ông không chịu ăn, giặc hỏi việc nước, ông không trả lời, cuối cùng chúng dụ dỗ: "Có muốn làm vương đất Bắc không?"

            Ông thét to: "Ta thà làm ma nước Nam chứ không thèm làm vương đất Bắc" nên bị chúng giết.

            Vua Trần Nhân Tông truy phong ông là Bảo Nghĩa Vương.

HOÀI VĂN HẦU TRẦN QUỐC TOẢN

            Trần Quốc Toản là con Trung Thành Vương, cháu nội của Nhân Đạo Vương được phong là Hoài Văn Hầu, mới 15 tuổi, vì không được dự hội nghị quân sự ở Bình Than bàn kế chống giặc Nguyên, căm thù giặc tay cầm quả cam bóp vỡ lúc nào không biết.

            Ra về, Trần Quốc Toản huy động hơn nghìn gia nô và trai tráng trong vùng mua sắm vũ khí, đóng chiến thuyền để đánh giặc, may lá cờ đại, thêu sáu chữ vàng "phá cường địch, báo hoàng ân" (phá giặc mạnh, báo ơn Vua).

            Trong cuộc chiến chống quân Nguyên - Mông lần thứ hai, khi đối trận với giặc, Trần Quốc Toản tự mình xông lên trước quân sĩ, giặc trông thấy phải lui tránh, không dám đối địch. Trần Quốc Toản đã góp vào chiến công to lớn ở Tây Kết và giải phóng kinh thành Thăng Long.

            Trong trận chặn đánh giặc rút chạy trên sông Như Nguyệt, Trần Quốc Toản đã anh dũng hy sinh, góp phần xứng đáng vào trận đại thắng Vạn Kiếp, quét sạch giặc Nguyên - Mông ra khỏi đất nước Đại Việt.

            Vua Trần Nhân Tông vô cùng thương tiếc, đích thân làm văn tế truy tặng tước Hoài Văn Vương.

ĐIỆN SÚY THƯỢNG TƯỚNG QUÂN PHẠM NGŨ LÃO

            Phạm Ngũ Lão, người làng Phù Ủng, Đường Hào (nay là Ân Thi, Hưng Yên) sinh năm Ất Mão (1255), nhà nghèo, bố chết sớm, phụng dưỡng mẹ già rất hiếu thảo, là người thông minh lại ham đọc sách và rèn luyện võ nghệ nên làu thông văn võ.

            Một lần Hưng Đạo Vương đưa quân đi tập trận rồi tắt đường qua làng Phù Ủng để về Thăng Long. Chợt đoàn quân dừng lại, tướng tiên phong Nguyễn Chế Nghĩa quay lại, trước mặt Hưng Đạo Vương, thưa:

            - Trình Đức Ông, dân chúng đều dẹp sang hai bên nhường đường cho quân trẩy qua, chỉ riêng có một người vẫn ngồi xếp bằng tròn trên đường đan sọt, quân lính quát thét không tránh, liền đâm mũi giáo vào đùi mà người đó vẫn ngồi yên.

            Hưng Đạo Vương thấy sự lạ liền xuống voi đến trước mặt chàng trai. Vương thấy chàng trai chừng 20 tuổi, đầu để trần, mặc áo rách nhưng dung mạo rất khôi ngô, tuấn tú, một bên đùi bị giáo đâm nhưng vẫn ngồi xếp bằng tròn đan sọt, mặc cho máu chảy đầm đìa, liền cúi xuống hỏi:

            - Nhà ngươi quê ở đâu, bị giáo đâm như thế sao không biết đau mà vẫn ngồi như vậy?

            Chàng trai đó ngước nhìn lên thấy một vị tướng quân đã lớn tuổi, cằm vuông, mắt sáng, chòm râu đen nhánh đều đặn cân đối, nét mặt hồng hào, dáng uy nghi quắc thước mà vẫn lộ rõ vẻ nhân từ, liền kính cẩn thưa:

            - Bẩm Đức Ông, tôi họ Phạm, tên Ngũ Lão, quê ở làng Phù Ủng, huyện Đường Hào, châu Thượng Hồng. Nhà nghèo, mẹ già yếu, ruộng đất không có, phải làm nghề đan sọt nuôi mẹ. Tôi mải nghĩ mấy câu trong binh thư nên không biết có quân của Đức Ông trẩy qua, làm trở ngại việc quân, xin Đức Ông xá tội cho.

            Hưng Đạo Vương thấy thần sắc, khẩu khí của Phạm Ngũ Lão xứng đáng là tướng cầm quân liền sai người nhổ ngọn giáo vẫn cắm ở đùi Phạm Ngũ Lão, sai người lấy thuốc dấu đắp vết thương rồi hỏi:

            - Hẳn tráng sĩ biết quân Nguyên - Mông đã chinh phục hàng chục nước ở Đông, Tây, Nhà Tống cũng đã bị đẩy xuống phía Nam, đang có nguy cơ bị tiêu diệt. Chúng đã bị nhân dân  Đại Việt ta đánh bại trong cuộc xâm lược lần thứ nhất, nay chúng đang gấp rút chuẩn bị để xâm lược nước ta một lần nữa. Hiện nay, trai tráng cả nước đang nô nức sắm sửa vũ khí, luyện tập võ nghệ, ta cũng đã soạn cuốn Binh thư yếu lược, hẳn tráng sĩ rõ chứ?

            Phạm Ngũ Lão thưa:

            - Bẩm Đức Ông, kẻ thứ dân này tuy ở nơi thôn dã, xa cách thị thành, song cũng biết giặc Nguyên - Mông đã động binh, rắp tâm xâm lược nước ta nên đã cùng trai tráng trong vùng luyện tập võ nghệ, chờ thời cơ đầu quân giết giặc, đền nợ nước...

            Hưng Đạo Vương hài lòng, gật đầu khen:

            - Tráng sĩ có chí lớn như vậy ta rất mừng, hiện ta đang chiêu mộ quân lính, kén chọn tướng tài để cầm quân giúp nước. Ta muốn đưa ngươi về trang ấp Vạn Kiếp giúp ta huấn luyện quân sĩ, tráng sĩ có vui lòng chăng?

            Phạm Ngũ Lão chưa kịp trả lời thì Đức Ông nhìn thấy trong chiếc sọt đan dở có quyển sách liền hỏi:

            - Tráng sĩ đọc sách trong khi đang đan sọt hay sao, cho ta xem qua được không?

            Phạm Ngũ Lão ngập ngừng thưa:

            - Bẩm Đức Ông, quyển sách này tôi chỉ ghi lại đôi điều cảm nghĩ khi đọc sách của người xưa.

            Nói rồi, kính cẩn dâng sách lên. Đức Ông nhìn thấy trang đầu ghi dòng chữ: "Dùng binh cốt chọn quân tinh nhuệ, không cần nhiều". Trang tiếp theo có bài thơ:

"Hoành giáo giang sơn cáp kỷ thu

Tam quân tỳ hổ khí thôn Ngưu,

Namnhi vi liễu công danh trái

Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu"

Tạm dịch:

"Vung giáo non sông trải mấy thu

Ba quân dũng mãnh át sao Ngưu

Công danh nam tử còn vương nợ

Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu"

Xem xong, Vương càng hài lòng nhắc lại:

            - Tráng sĩ tỏ ra là người thao lược, ta rất quý trọng. Ta muốn đưa về trang ấp Vạn Kiếp giúp ta huấn luyện quân sĩ, tráng sĩ có vui lòng không?

            Ngũ Lão thưa:

            - Bẩm Đức Ông, tôi rất muốn đầu quân, nhưng vì còn vướng mẹ già, xin phép Đức Ông cho tôi về thưa đã...

            Hưng Đạo Vương xúc động trước tấm lòng hiếu thảo của Ngũ Lão liền truyền lấy mấy tấm lụa và hai mươi nén bạc trao cho Ngũ Lão, nói:

            - Ta tin một người mẹ đã sinh ra người con như tráng sĩ ắt vui lòng cho con đầu quân giết giặc. Ta có chút quà nhỏ gửi biếu bà mẹ, tráng sĩ đến sớm với ta.

            Phạm Ngũ Lão xúc động, vái lạy Đức Ông và xin được về thưa với mẹ rồi tới quân doanh ở Vạn Kiếp trình diện.

            Nửa tháng sau, khi đã trình với mẹ và điều trị lành vết thương, được mẹ và dân làng tiễn đưa Phạm Ngũ Lão lên đường đầu quân giết giặc.

            Phạm Ngũ Lão đến trang ấp Vạn Kiếp ra mắt Đức Ông, được Quốc Công niềm nở đón tiếp. Biết tài của Phạm Ngũ Lão, Vương giao cho cùng Hưng Nhượng Vương Trần Quốc Tảng huấn luyện quân sĩ.

            Sau một thời gian luyện quân, Hưng Đạo Vương tiến cử Phạm Ngũ Lão với nhà Vua cho coi quân Cấm vệ là đội quân tin cậy, làm nhiệm vụ bảo vệ Vua và Cấm thành.

            Trong hai cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông lần thứ hai và thứ ba, Phạm Ngũ Lão lập được nhiều chiến công to lớn ở Tây Kết, Vạn Kiếp, Bạch Đằng Giang và được phong đến chức Kim Nghiêu đại tướng quân.

            Ông được Hưng Đạo Vương rất yêu mến, đem con gái nuôi là Anh Nguyên Quận chúa gả cho.

            Phạm Ngũ Lão phục vụ trải 3 đời Vua nhà Trần, được phong đến chức Điện suý thượng tướng quân.

            Ngày 01 tháng 11 năm Canh Thân (1320) Phạm Ngũ Lão mất tại phủ đệ Vua ban ở vườn cam trong thành, thọ 66 tuổi. Vua nghỉ chầu 05 ngày, đó là ân điển đặc biệt.

            Khi ông mất, dân làng Phù Ủng lập đền thờ ngay trên nền đất nhà cũ ở phía tây làng.

            Nhiều nơi trong nước lập đền thờ Phạm Ngũ Lão.

TƯỚNG QUÂN NGUYỄN CHẾ NGHĨA

            Nguyễn Chế Nghĩa, người làng Cối Xuyên, Gia Lộc, Hải Dương, có tài võ nghệ, lại làu thông binh pháp.

            Được Hưng Đạo Vương thu nhận làm gia tướng. Nguyễn Chế Nghĩa lập nhiều công lớn trong hai cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông lần thứ hai và thứ ba, ông đã giết được hai tướng giặc là Trương Ngọc và A-bát-xích.

            Nguyễn Chế Nghĩa được vua Trần Anh Tông rất yêu mến, gả con gái Ngọc Hoa công chúa cho và được phong là An Nghĩa đại vương.

            Khi ông mất được làng Kiêu Kỵ (Gia Lâm - Hà Nội) thờ làm Thành hoàng.

TRƯỞNG SỬ QUAN LÊ VĂN HƯU

            Tháng Giêng năm Nhâm Thân (1272), dưới triều Vua Trần Nhân Tông, Chưởng sử quan Lê Văn Hưu đã hiến dâng bộ quốc sử lấy tên là Đại Việt sử ký. Đây là bộ sử đầu tiên của nước Đại Việt ta gồm 30 quyển.

            Lê Văn Hưu  sinh năm Canh Dần (1230), quê hương nay là làng Rị, xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa, Thanh Hóa. Là người chép sử đầu tiên của dân tộc ta, ông đã nổi tiếng thần đồng khi còn là cậu học trò nhỏ ở giáp Phủ Lý, huyện Đông Sơn, Phủ Lộ, Thanh Hóa.

            Truyện kể rằng, hồi Lê Văn Hưu là học trò thầy họ Nguyễn ở làng Cổ Bôn, hằng ngày đi học thường dừng chân bên quán thợ rèn ở đầu làng để xem.

            Một hôm, Lê Văn Hưu xách túi đứng xem bác thợ rèn dùi xiên tò mò hỏi:

            - Bác này! Ông tổ nghề rèn của ta là ai đó?

            Thấy thằng bé mới lên mười tuổi mà đã biết hỏi vặn vẹo, bác thợ rèn liền ra câu đối, đối được thì được thưởng, không đối được thì phải ở đây quai búa, khi nào đối được mới cho về!

            Bác thợ rèn chỉ vào lò rèn đọc:

            - “Than trong lò, sắt trong lò, lửa trong lò, thổi phì phò, rèn nên dùi sắt”. Đối đi!

            Lê Văn Hưu  cười:

            - Chả khó mấy! - Rồi vỗ vào túi đối ngay:

            - “Nghiên ở túi, bút ở túi, giấy ở túi, viết lúi húi, giật lấy khôi nguyên!”.

            Bác thợ rèn trợn tròn mắt khen:

            - Ta xin thua rồi đó! - Bác thưởng cho Lê Văn Hưu  30 đồng tiền để mua giấy bút.

            Quả nhiên, qua dùi mài kinh sử, năm Đinh Mùi (1247), Lê Văn Hưu  đỗ Bảng nhãn vào đúng lúc 17 tuổi đời. Ông làm quan dưới ba triều Vua Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông và Trần Nhân Tông.

            Sau khi đỗ Bảng nhãn, Lê Văn Hưu được triều đình phong chức Hàn lâm viện học sĩ, lại được Vua Trần Thái Tông ủy thác cho việc dạy dỗ Hoàng tử Trần Quang Khải và năm 1262 được Thượng hoàng Thái Tông giao cho biên soạn bộ quốc sử đầu tiên của đất nước ta.

            Năm 1275, ông được giữ chức Binh Bộ Thượng thư. Ông mất năm 1322, thọ 93 tuổi.

NHÀ GIÁO DỤC XUẤT SẮC CHU VĂN AN

            Chu Văn An hoặc Chu An (1292-1370), là nhà sư phạm, nhà nho tài đức đời Trần, quê làng Văn, xã Quang Liệt, huyện Thanh Đàm (xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội).

            Đậu Thái học sinh (tiến sĩ) nhưng không ra làm quan, mở trường dạy học tại quê, nhằm truyền bá đạo Nho và bài xích dị đoan hủ tục. Học trò của ông rất đông, có tới mấy ngàn người. Học trò ông nhiều người thành đạt như Lê Quát, Phạm Sư Mạnh (là đến Nhập nội hành khiển). Tiếng tăm, uy tín của ông ngày càng lớn. Vua Trần Minh Tông mời ông đến Thăng Long giữ chức Tư nghiệp Trường Quốc Tử Giám và dạy thêm Hoàng tử, thời gian này ông biên soạn bộ Tứ thư thuyết ước gồm 10 quyển, thuyết minh tóm tắt 4 tác phẩm lớn của Nho giáo để tiện sử dụng.

            Đến đời Trần Dụ Tông (1341-1369), Vua thì rượu chè, chơi bời quá độ, khiến cho triều đình đổ nát, giặc giã nổi lên như ong, nhân dân cực khổ trăm bề. Chu Văn An dâng sớ "Thất trảm" xin vua chém đầu 7 tên gian thần, nhưng Vua không nghe, ông liền treo ấn từ quan về ở ẩn tại núi Phượng Hoàng, làng Kiệt Đặc, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương lấy biệt hiệu là Tiều Ẩn, sáng tác thơ ca ngợi vẻ đẹp, sức sống của thiên nhiên, bày tỏ khí tiết thanh cao cũng như tình cảm gắn bó giữa tạo vật với con người. Năm 1370, sau khi khủng hoảng chính trị trong chiều đình nhà Trần, Trần Nghệ Tông lên ngôi vua, Chu Văn An ra kinh đô bệ kiến vua mới, nhưng không nhận chức tước gì, rồi trở về núi cũ. Sau khi mất được Nhà Vua truy tặng tước Văn Chinh công và ban tên thụy là Khang Tiết, được đưa vào thờ tại văn miếu, sĩ phi các đời sau đều xem ông như một người thầy tiền bối đáng kính trọng.

            Hầu hết tác phẩm của Chu Văn An đều không còn nữa. Mười một bài thơ chữ Hán còn lại được in trong Toàn Việt thi lục. Thơ ông "rất trong sáng, u nhàng" dùng nhiều hình ảnh sáng tạo, nhất là trong thơ tả cảnh.

 

XV.NHÀ HỒ (1400-1407) QUỐC HIỆU ĐẠI NGU

KINH ĐÔ TÂY ĐÔ Ở THANH HÓA

1. Hồ Quý Ly (Lý Nguyên) (1400):

Niên hiệu: Thánh Nguyên (1400)

            Hồ Quý Ly tên tự là Thánh Nguyên, là hậu duệ Trạng nguyên Hồ Hưng Dật, vốn gốc thuộc tộc Việt ở Chiết Giang (Trung Quốc), đời Hậu Hán (thời Ngũ Qúy) di cư sang Giao Châu, làm hứ sử Diễn Châu. Sau định cư ở hương Bào Đột (Quỳnh Lưu, Nghệ An) làm trại chủ. Đén triều Lý (có người lấy công chúa Nguyệt Đích), sinh ra công chúa Nguyệt Đoan, đến đời cháu thứ 12 là Hồ Liêm dời đến ở Hưng Đại Lại (Yên Đinh, Thanh Hóa) làm con nuôi Tuyên úy Lê Huấn, từ đấy lấy họ Lê làm họ mình. Quý Ly là cháu bốn dời của Lê Huấn (gọi là Lê Quý Ly), Hồ Quý Ly lấy công chúa Huy Ninh, con gái Trần Minh Tông.

            Hồ Quý Ly dưới triều Trần Nghệ Tông được thăng tiến rất nhanh từ chức Chi hậu tứ cục chánh chưởng thăng lên Khu mật viện đại sứ rồi lên Tiểu tư không, khiêm Khu mật viện đại sứ liên tiếp gia phong đến chức Phụ chính thái sư nhiếp chính Khâm Đức Hưng Liệt Đại Vương, Quốc Tổ Chương Hoàng rồi cướp ngôi nhà Trần.

            Lê Quý Ly cướp ngôi nhà Trần, tự lập làm vua, đặt niên hiệu là Thánh Nguyên, đặt quốc hiệu là Đại Ngu đóng đô ở Tây Đô (Vĩnh Lộc - Thanh Hóa), trở lại là Hồ Quý Ly.

            Hồ Quý Ly là nhân vật thông minh lỗi lạc, ông đã đề ra nhiều cải cách táo bạo. Ông ra sách Minh Đạo để phê phán hệ tư tưởng Tống Nho, phục vụ cho những cải cách mới như hạn điền, hạn nô, sa thải tăng lữ để hạn chế phong kiến quý tộc, đồng thời tăng thêm lực lượng lao động xã hội góp phần giải phóng sức sản xuất, sức lao động.

            Nhà Hồ cho đo đạc lại ruộng đất, điều tra dân số để nắm chắc tài sản và sức lao động toàn xã hội, phát hành tiền giấy, giải quyết khó khăn về tài chính quốc gia và thuận tiện cho việc lưu thông hàng hoá.

            Cải cách chế độ thi cử, mở mang việc giáo dục, để đào tạo nhân tài, lập Quảng tế thự để chữa bệnh cho nhân dân đều là những cải cách tiến bộ.

            Nhà Hồ định ra hình luật để củng cố, tăng cường bộ máy và quyền lực của triều đình Trung ương, quan tâm đến giao thông thuỷ lợi, đào sông, đắp đường thiên lý, đặt phố xá, đặt trạm công văn.

            Về quân sự thì tăng cường quân đội thường trực, xây dựng các tuyến phòng thủ, lập xưởng đúc binh khí kỹ thuật để chống giặc phương Bắc.

            Các cải cách của Hồ Quý Ly có tính chất toàn diện, có những cải cách đi trước thời đại, giá trị thực tiễn của nó đến nay vẫn còn hấp dẫn, nhiều nhà kinh tế nước ngoài đã ca ngợi Hồ Quý Ly là một nhà cải cách kinh tế lớn. Nhưng Hồ Quý Ly mắc tội giết vua Thiếu Đế cùng tôn tộc và quan lại nhà Trần, kể cả Tướng quân ta Khát Chân. Do vậy bị nhân dân oán hận, nên khi quân Minh sang xâm lược nước ta, Hồ Qúy Ly đã không tập hợp được lực lượng toàn dân đánh giặc, bố con Hồ Qúy Ly bị quân Minh bắt đem về Trung Quốc.

2. Hồ Hán Thương (1401-1407)

Niên hiệu:       - Thiệu Thành (1401-1402)

                        - Khai Đại 91403-1407)

            Bắt chước nhà Trần, ngày 12-01-1401, Hồ Qúy Ly nhường ngôi cho con thứ là Hồ Hán Thương, còn mình thì tự xưng là Thái Thượng hoàng cùng coi chính sự.

            Hồ Hán Thương là con công chúa Huy Ninh, cháu ngoại của vua Trần Minh Tông.

            Hồ Qúy Ly nhường ngôi cho Hồ Hán Thương, nhưng vẫn tự quyết đoán mọi việc.

            Nhà Minh lấy cớ Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần, đem quân sang đánh chiếm nước ta.

            Tháng 9-1406, Nhà Minh sai Tân Thành hầu Trương Phụ đem 40 vạn quân đánh vào cửa ải Pha Lũy (tức là Hữu Nghị Quan ngày nay).

            Nhà Minh còn sai Tây Bình hầu Mộc Thạnh cũng đem 40 vạn quân đánh vào cửa ải Phú Lệnh (gần thị xã Hà Giang ngày nay).

            Tháng 12, quân Minh đã chiếm được Việt Trì. Nhà Hồ chống giữ không nổi 80 vạn quân Minh.

            Ngày 20 tháng 01 năm 1407, quân Minh hạ thành Đa Bang (Ba Vì), bố con Hồ Quý Ly bỏ chạy vào Thanh Hoá, đến ngày 17-6-1407, quân Minh bắt được cha con Hồ Qúy Ly. Thế là đất nước ta bị nhà Minh đô hộ với một chính sự vô cùng hà khắc. Chúng vơ vét của cải, hãm hiếp đàn bà, con gái, giết đàn ông và còn thiến hoạn nhiều con trai nhỏ tuổi để mong đồng hoá dân ta.

 

XVI. HẬU TRẦN (1407-1413)

1. Giản Định Đế (Trần Ngỗi) (1407-1409):

Niên hiệu: Hưng Khánh (1407-1409)

            Trần Ngỗi là con thứ của vua Trần Nghệ Tông, cuối thời Hồ đã khởi binh khôi phục nhà Trần, ở ngôi được 2 năm. Vua không có tài dẹp loạn, lại nghe gian thần giết oan 2 vị trung thần là Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân, nên tự chuốc lấy hoạ diệt vong.

2. Trùng Quang Đế (Trần Quý Khoáng) (1409-1413)

Niên hiệu: Trùng Quang (1409-1413)

            Trần Quý Khoáng là con thứ của Mẫn Vương Ngạc, cháu nội của vua Trần Nghệ Tông, gọi Giản Định Đế bằng chú ruột.

            Đặng Dung là con Quốc Công Đặng Tất, Nguyễn Cảnh Dị là con Tham mưu quân sự Nguyễn Cảnh Chân, căm giận vì cha bị giết oan, mới đem quân Thuận Hoá về Thanh Hoá đón Trần Quý Khoáng đến Nghệ An làm vua là Trùng Quang Đế để lãnh đạo cuộc kháng chiến chống quân Minh.

            Tháng 3-1413, vua Trùng Quang sai Nguyễn Biểu sang điều đình với quân Minh. Trương Phụ muốn uy hiếp tinh thần của Nguyễn Biểu, đã sai quân dọn một bữa tiệc đặc biệt, bằng cách cho bê một mâm cỗ đặt trên một chiếc sập gụ mầu nâu sẫm, cạnh mâm là một nậm rượu và cái chén đặt ngay ngắn trên khay khảm xà cừ.

            Người lính hầu nhấc chiếc lồng bàn ra thì lúc đó Nguyễn Biểu sửng sốt: một mâm cỗ quái đản và ghê tởm: "một chiếc đầu người của một người dân lành bất hạnh nào đó, đã được luộc chín".

            Không chút do dự, Nguyễn Biểu ngồi xuống sập, ung dung rót rượu. Sau tợp rượu khai vị, Nguyễn Biểu cầm đũa ngà moi đôi mắt chấm vào muối nuốt một cách ngon lành. Sau khi cạn chén rượu, Nguyễn Biểu cười kiêu hãnh nói một mình như nhắn bảo cho Trương Phụ biết:

            "Không mấy khi người Nam được ăn đầu người Bắc", rồi Nguyễn Biểu rung đùi ngâm bài thơ ứng khẩu:

Ngọc thiệt trân tu đã đủ mùi,

Gia hào thêm có cỗ đầu người

Nem công chả phượng còn chưa béo,

Thịt gụ gan lân cũng kém tươi,

Cá lối lộc minh so cũng một

Vật bày thỏ thú bội hơn mười,

Kia kìa ngon ngọt tày vai lợn,

Tráng sĩ như phàn tiếng để đời.

            Đọc xong bài thơ, Nguyễn Biểu ung dung buông đũa đứng dậy. Khi nghe quân hầu thuật lại về Nguyễn Biểu với mâm cỗ đầu người, Trương Phụ tròn xoe mắt kinh ngạc. Để tỏ ra mình cũng biết trọng những kẻ có tài năng, khí phách, Trương Phụ lấy lễ tiếp đãi Nguyễn Biểu, rồi tiễn chân sứ giả ra về.

            Khi Nguyễn Biểu ra về rồi, tên Việt gian Phan Liêu ton hót:

            "Ngài muốn lấy nước Nam mà tha người ấy về thì làm sao mà xong việc được".

            Trương Phụ nghe ra, bèn hạ lệnh cho quân lính đuổi theo đoàn sứ giả bắt Nguyễn Biểu trở lại.

            Quân giặc bắt Nguyễn Biểu quỳ lạy Trương Phụ. Nguyễn Biểu hất tay bước tới chỉ thẳng vào mặt Trương Phụ quát mắng:

            "Trong bụng toan tính việc đánh chiếm nước người ta, ngoài mặt lại phô trương là quân nhân nghĩa, trước nói là lập con cháu họ Trần, bây giờ lại đặt quận, huyện, không những cướp bóc của cải lại còn giết hại nhân dân, bọn mày thật là lũ giặc bạo ngược".

            Thấy không khuất phục được Nguyễn Biểu, Trương Phụ ra lệnh giết sứ giả.

            Cuối năm Quý Tỵ (1413), do quân ta ít không thể chống lại được với quân Minh, Trương Phụ, Mộc Thạch cho quân bao vây đã bắt được Trùng Quang Đế, Đặng Dung, Nguyễn Suý giải về Trung Quốc, trên đường đi vua tôi nhà Hậu Trần đã nhảy xuống biển tự tử để tỏ rõ khí phách. Nhà Hậu Trần chấm dứt từ đó.

XII.THỜI KỲ ĐẤU TRANH CHỐNG NHÀ MINH

THỐNG TRỊ (1414-1427)

            Quân Minh chiếm được nước ta, chúng chia thành quận, huyện để cai trị. Chúng bắt nhân dân ta làm tôi tớ, thuế má lao dịch nặng nề, cuộc sống vô cùng cực khổ.

            Ngay từ năm 1407, sau khi diệt xong nhà Hồ, nhà Minh đã đổi nước ta làm quận Giao Chỉ, dưới quận chúng chia nước ta thành 15 phủ gồm 36 châu, 181 huyện, nhưng thực tế phải đến năm 1414, nhà Minh mới thiết lập được hệ thống chính quyền các cấp phủ, châu, huyện ở nước ta.

            Nhà Minh ra lệnh tước đoạt mọ thứ vũ khí trong tay nhân dân ta. Ai chế tạo, cất giấu chiến thuyền, vũ khí, dù là thô sơ, đều bị ghép vào tội "phản nghịch". Mỗi khi, nhân dân ta phản kháng hoặc vùng lên khởi nghĩa thì lập tức chúng dùng vũ lực đàn áp khốc liệt với nhiều thủ đoạn man rợ. Quân giặc "đi đến đâu chém giết thả cửa, hoặc chất thây người làm núi, hoặc rút ruột người quấn vào cây, hoặc rán thịt người lấy mỡ, hoặc làm nhục hình bào lạc để mua vui, thậm chí có kẻ theo lệnh giặc, mổ bụng người có thai, cắt tay của mẹ và con để dâng cho giặc".

            Nhà Minh đẩy mạnh việc vơ vét của cải và bóc lột nhân dân ta một cách tham tàn.

            Mùa hạ năm 1408, sau hơn một năm xâm lược và cướp bóc, số "chiến lợi phẩm" mà Trương Phụ tâu lên vua Minh gồm:

            - 235.000 con voi, ngựa, trâu, bò.

            - 13.600.000 thạch thóc.

            - 8.670 chiếc thuyền.

            - 2.539.800 đồ quân khí.

            Năm 1417, nhà Minh rời đô lên Bắc Kinh và trong nhiều năm liền, nhà Minh bắt nhiều dân phu và thợ thủ công lao dịch trong công trình này. Người thiết kế công trình xây dựng đại quy mô đó là Nguyễn An, một kiến trúc sư tài giỏi nước ta bị quân Minh bắt đem về Trung Quốc. Nguyễn An cũng như nhiều người có tài năng khác đều bị chúng cưỡng bức biến thành hoạn quan, suốt đời làm nô lệ cho chúng.

            Thực hiện chủ trương hủy diệt văn hóa Đại Việt của nhà Minh, phần lớn các sách điển chương, luật lệ, cùng những tác phẩm lịch sử, văn học, địa lý, quân sự… của nước ta đã bị quân giặc cướp đoạt và tiêu hủy.

            Cuối năm 1426, Vương Thông đã cho phá chuông Quy Điền và vạc Phổ Minh để lấy đồng đúc vũ khí đàn áp nhân dân ta.

            Chuông Quy Điền (chùa Một Cột - Hà Nội); vạc Phổ Minh (Nam Định) cùng với đỉnh tháp Báo Thiên (Hà Nội) và tượng phật của chùa Quỳnh Lâm (Quảng Ninh) là bốn công trình tiêu biểu của nghệ thuật đúc đồng thời Lý Trần, đã nổi tiếng là "An Nam tứ đại khí". Triều đình nhà Minh và quân xâm lược Minh đã phạm nhiều tội ác phá hoại các di sản vưn hóa dân tộc của Đại Việt ta.

            Khởi nghĩa Lam Sơn 

            Ngày Mậu Thân, tháng Giêng năm Mậu Tuất (7-02-1418), Lê Lợi phất cờ khởi nghĩa ở hương Lam Sơn, huyện Lương Giang, trấn Thanh Hoá, có quân sư Nguyễn Trãi dâng "Bình Ngô sách" nhằm thu phục lòng người; Trần Nguyên Hãn (cháu nội của quan Tư đồ Trần Nguyên Đán) và nhiều nhân tài, hào kiệt các nơi tham gia.

            Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn là một cuộc kháng chiến trường kỳ, kéo dài suốt 10 năm. Có lúc nghĩa quân bị bao vây, quân tướng chỉ còn mấy trăm người không có gì ăn phải đào củ chuối và giết ngựa cho quân sĩ ăn. Lê Lai đã cải trang giống Lê Lợi "liều mình cứu chúa" để cho Lê Lợi thoát khỏi vòng vây tiếp tục lãnh đạo cuộc kháng chiến chống quân Minh. Theo kế sách của tướng quân Nguyễn Chích, Lê Lợi đã đưa quân vào Nghệ An, nơi đất rộng người đông, nhân dân có truyền thống yêu nước và bất khuất từ ngàn xưa, nên đã đưa nghĩa quân Lam Sơn bước vào thời kỳ phát triển mới.

            Cuộc kháng chiến trường kỳ đó ban đầu là một cuộc chiến tranh nhân dân, dùng chiến thuật du kích để tiêu hao sinh lực địch, nghĩa quân mạnh dần lên, đã dùng kế sách "vây thành diệt viện" kết hợp với thuyết phục giặc đầu hàng. Quân ta bao vây thành Đông Quan (Hà Nội), nhà Minh sai tướng An Viễn hầu Liễu Thăng dẫn 10 vạn quân sang cứu viện. Nghĩa quân tổ chức phục binh ở ải Chi Lăng (Lạng Sơn), tướng Trần Lựu chém được Liễu Thăng ở núi Mã Yên và hơn một vạn thủ cấp quân giặc. Quân ta đưa ấn tín, cờ tiết của Liễu Thăng vào thành Đông Quan cho giặc Minh biết. Tướng giặc Vương Thông hết hy vọng vào viện binh đã xin đầu hàng.

            Ngày 10-12-1427, Lê Lợi, Nguyễn Trãi cho tướng Minh Vương Thông đến "Hội thề Đông Quan". Chúng thề không bao giờ dám xâm phạm Đại Việt nữa.

            Lê Lợi - Nguyễn Trãi lấy đức hiếu sinh, cấp lương thực cho 10 vạn quân Minh được an toàn rút quân về nước.

            Ngày 03-01-1428, nghĩa quân hoàn toàn thắng lợi, lập nên triều đại nhà Lê.

            Lê Lợi đã lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, lật đổ ách thông trị của nhà Minh lập ra triều Lê (1428). Từ đấy, quốc gia Đại Việt kế thừa những triều đại Lý - Trần, đạt tới đỉnh cao của sự nghiệp dựng nước, đặt nền tảng cho sự hình thành một quốc gia hoàn chỉnh (nha yêu nước Phan Bội Châu cũng đã tôn vinh Lê Lợi là "vị tổ trung hưng thứ hai" của dân tộc Việt Nam.


Nguồn tin: Doanh nghiệp Hoàng Nguyên
Từ khóa:

n/a

Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết